Hiển thị các bài đăng có nhãn Phê bình văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phê bình văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 2 tháng 5, 2018

5757. Đối mặt với lương tri*

Đối mặt với lương tri*
ĐĂNG BẢY/ Thứ ba, 17 Tháng 4 2018 21:18 


Lệ thường, khi đọc một tác phẩm văn học về đề tài đương đại, người đọc vô hình trung liên tưởng đến nhiều điều: na ná chuyện này mình đã thấy ở đâu, nhân vật nọ có nguyên mẫu nào trong thực tế đời sống, và từ những ẩn dụ, ví von, ngụ ý, tác giả có thái độ đúng hay sai, v.v... Tiểu thuyết Cuộc cờ của tác giả Phạm Quang Long với bốn trăm trang có lẻ do Nhà xuất bản Hà Nội ấn hành từ đầu năm 2018 đương nhiên nằm trong điểm ngắm ấy. Câu chuyện về dự án “đổi đất lấy cơ sở hạ tầng” ở một địa phương với những thành công và hệ lụy của nó đang là hiện thực ấm nóng. Diễn biến số phận của một dự án – từ nghị quyết, quy hoạch đến triển khai - dưới sự điều hành của giới chức sắc sở tại, đó là cả một cuộc cờ ly kỳ và gay cấn làm sao? Mà giới chức sắc đó được tác giả Phạm Quang Long không ngại gọi thẳng tên: họ ở cấp tỉnh và trên nữa.

Thứ Ba, 13 tháng 3, 2018

5720. ĐÔI LỜI VỀ GIẢI THIÊNG TRONG VĂN HỌC

ĐÔI LỜI VỀ GIẢI THIÊNG TRONG VĂN HỌC.
Nguyễn Ngọc Dương/ PNTB

Gần đây, tôi được xem chương trình TV QPVN (truyền hình Quân đội nhân dân), phỏng vấn Trung tá – T.S Phạm Duy Nghĩa (PDN), Trưởng ban Lý luận phê bình văn học Tạp chí Văn nghệ quân đội về vấn đề Giải thiêng trong văn học. Đây là vấn đề mới và rất hữu ích để có cái nhìn đúng đắn hiện tượng Giải thiêng đang xuất hiện trong thực tiễn sáng tác về lịch sử. Qua chương trình và kết hợp trải nghiệm thực tiễn, tôi có mấy cảm nhận như sau:

Về khái niệm Giải thiêng, theo T.S Phạm Duy Nghĩa, “nó có nguồn gốc từ tiếng Pháp (désacraliser), có nghĩa là làm mất đi tính thiêng liêng của một đối tượng nào đó, xóa bỏ tính trang nghiêm, tính thần tượng, kiểu mẫu của đối tượng vốn đã được in sâu, mặc định từ lâu đời trong tâm thức của cộng đồng, dân tộc”.

Thứ Hai, 29 tháng 1, 2018

5689. VỀ TRUYỆN “BẮT ĐẦU VÀ KẾT THÚC” - NHÀ VĂN HOÀNG QUỐC HẢI

VỀ TRUYỆN “BẮT ĐẦU VÀ KẾT THÚC”
Nhà văn Hoàng Quốc Hải
Nhà văn Hoàng Quốc Hải. Ảnh: Internet.
Tễu Blog: Bài này đã đăng báo Văn Nghệ số 4 93023), ra ngày 27.1.2018, phát hành cả nước từ ngày 25.1.2018. Bản tác giả gửi đến Văn Nghệ và các trang mạng có tiêu đề là "Về truyện Bắt đầu và Kết thúc", nhưng bị Báo Văn Nghệ đổi thành "Về truyện Mở đầu và Kết thúc". Đọc cái tiêu đề của Văn Nghệ, người ta sẽ bảo: ông lão lẩm cẩm, đến cái tên truyện còn ghi nhầm thì còn viết bài phê phán cái gì! Báo Văn Nghệ thâm thật! Hay là có nội gián?
Mấy năm nay, nhiều nguồn tin không thể kiểm chứng tải về từ nhiều nước, trong đó chủ yếu từ Trung Quốc do người có học đi du lịch đem về. Trong đó họ nói,Trần Ích Tắc trá hàng để làm tình báo, Trần Quốc Toản không phải hy sinh khi truy đuổi giặc bên bờ sông Như Nguyệt, mà ông chỉ bị thương, giặc bắt đưa ông về Tàu. Ông qui thuận, nên được trọng đãi. Hiện con cháu ông rất thành đạt. Họ đã được xem cả gia phả, tộc phả của cả gia quyến Trần Ích Tắc và Trần Quốc Toản. Nhưng khi hỏi bằng chứng thì chẳng ai có bằng chứng gì. Có kẻ còn khẳng định: Chỉ riêng tôi có tài liệu gốc, tôi sử dụng cho riêng tôi, tại sao tôi phải chứng minh cho mọi người. Lý sự thế, thì đúng là giả mạo rồi, nhà nghiên cứu, nhà khoa học, không ai làm như vậy. Thế mà nhiều người vẫn nhắm mắt tin theo, rồi phao tin đồn nhảm.

Thứ Hai, 22 tháng 1, 2018

5682. HỘI NHÀ VĂN VN TỌA ĐÀM VỀ TRUYỆN NGẮN CA NGỢI TRẦN ÍCH TẮC

Hội Nhà văn VIệt Nam tọa đàm về truyện ngắn ca ngợi Trần Ích Tắc


Chiều 19-1-2018, đúng ngày kỷ niệm 44 năm Trung Cộng dùng vũ lực để cướp Hoàng Sa, tại trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam số 9 Nguyễn Đình Chiểu, HN, Ban Sáng tác của Hội đã tổ chức một cuộc tọa đàm ở phạm vi hẹp về truyện ngắn “Bắt đầu và Kết thúc” của tác giả Trần Quỳnh Nga.

Chủ trì tọa đàm là Ông Trần Đăng Khoa, Trưởng Ban Sáng tác, kiêm Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam. Một số nhà văn, chuyên gia về lý luận văn học đã có mặt: Hoàng Quốc Hải, Trần Đình Hiến, Trần Đình Sử, Nguyễn Quang Thiều, Hữu Thỉnh, Văn Chinh, Nguyễn Văn Thọ, Lê Minh Khuê, Trịnh Bá Đĩnh, Trần Bảo Hưng, Khuất Quang Thụy, Khuất Bình Nguyên. Nhà văn Trần Văn Tuấn, Chủ tịch Hội Nhà văn TP HCM cũng có mặt tại tọa đàm…. Được biết, báo Văn Nghệ có ghi chép tại chỗ và đăng số tới (tuần sau).

Truyện ngắn “Bắt đầu và Kết thúc” đăng trên báo Văn Nghệ số 50 ra ngày 16 - 12 - 2017. Truyện ngắn này đã gây bão dư luận trên mạng xã hội từ suốt hơn một tuần qua, làm bùng nổ các trao đổi trong và ngoài học thuật. Vì vậy, cuộc tọa đàm là một động thái cần thiết, thể hiện rõ trách nhiệm và sự khách quan của Hội Nhà văn Việt Nam trước lịch sử dân tộc và trước bạn đọc. Việc chỉ đạo Ban Sáng tác chủ trì tổ chức tọa đàm là vừa vặn, đúng tầm mức.

Thứ Tư, 17 tháng 5, 2017

5263. Tôn Ngộ Không bị giam 500 năm dưới Ngũ Hành Sơn, ẩn ý thâm sâu đằng sau là gì?

Tôn Ngộ Không bị giam 500 năm dưới Ngũ Hành Sơn, ẩn ý thâm sâu đằng sau là gì?

Hồng Liên

ĐKN - Nếu như Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân là tuyệt thế kỳ thư vĩ đại nhất trong “Tứ đại danh tác”, thì bộ phim cùng tên của đạo diễn Dương Khiết cũng xứng đáng được tôn vinh là tác phẩm bất hủ nhất của điện ảnh Trung Hoa.
Làm nên thành công ấy phải kể đến sự đóng góp không nhỏ của các nhạc khúc trong phim. Và trong những nhạc khúc bất hủ ấy, có một bài hát, mà dẫu chỉ xuất hiện trong một phân cảnh nhỏ của phim, nhưng lại khiến lòng người mãi bồi hồi da diết. Đó chính là bài hát kể lại tâm sự của Tôn Ngộ Không suốt 500 năm bị đè dưới Ngũ Hành Sơn. Không hào tráng như ca khúc mở đầu “Đường chúng ta đi”, không tươi vui ngộ nghĩnh như “Ngộ Không trộm đào”, lại không ngọt ngào trong sáng như “Tình nhi nữ”, vậy mà “500 năm bãi bể nương dâu” cứ vương vấn mãi trong lòng người xem.

Thứ Hai, 27 tháng 3, 2017

5139. Nghĩ về lời hát mở đầu trong phim Tam quốc Diễn nghĩa

Nghĩ về lời hát mở đầu trong phim Tam quốc Diễn nghĩa
PNTB

Điện ảnh Trung quốc cũng rất kỳ công xây dựng bộ phim nhiều tập từ nguyên tác của La Quán Trung. Và Đài THVN đã mua phim này chiếu đi chiếu lại nhiều lần. Thính giả xem mãi không chán.

Khỏi nói về cái hay, cái đẹp của nghệ thuật điện ảnh, mình còn thích lời bài hát mở đầu bộ phim. Đó là một bài thơ, (không biết ai dịch mà hay thế?). Chả hiểu hết nhưng cũng vỡ ra được một cái gì theo cảm nhận của riêng mình. Còn ai bảo đúng, bảo sai cũng mặc.

Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2017

5083. Tùy bút thơ

Tùy bút thơ
Vũ Đình Mai

Có lẽ từ thủa các vua Hùng
Chưa bao giờ đất nước ta
            đông đúc các nhà thơ
                     như thời ta đang sống
và có lẽ
    dân tộc ta
         một dân tộc sinh ra và lớn lên
              bên cánh cò tiếng võng
lại thờ ơ với thơ như lúc này.

Thứ Năm, 23 tháng 2, 2017

5062. Vài suy nghĩ về thơ Việt đương đại

Vài suy nghĩ về thơ Việt đương đại

Tác giả: TS Văn học PHẠM DUY NGHĨA

PNTB: Ai đã, đang và sẽ làm thơ không nên bỏ qua bài này.
"Và văn học, một khi xa rời những vấn đề mang tính vĩnh cửu của nhân loại, xa rời trách nhiệm công dân, thờ ơ trước vận mệnh của đất nước, dân tộc, con người, thì bị nhân quần xa lánh là điều tất yếu, dễ hiểu" (PDN).  
Trong nền văn học của mỗi quốc gia, ở từng thời đại hoặc giai đoạn lịch sử, mỗi thể loại lại có những bước thăng trầm. Những năm cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI ở Việt Nam, nếu như diện mạo văn xuôi đã định hình khá rõ nét trong hành trình đổi mới thể loại và nhận được nhiều đồng thuận trong đánh giá, nhận định của giới nghiên cứu, thì về cơ bản thơ vẫn đang ở trong giai đoạn tìm đường. Một giai đoạn tranh tối tranh sáng, dở hay lẫn lộn, cái cũ còn dùng dằng, cái mới chưa tỏ mặt. Đánh giá về thơ, quả thực là việc khó ở thời điểm hiện tại. Bài viết này chỉ là một góc nhìn nhỏ, xuất phát từ đặc trưng thể loại, trước lộ trình đa dạng và phức tạp của thơ.

Thứ Bảy, 14 tháng 2, 2015

3950. Cảm nhận về bộ Câu đối tết của Phó nhòm tây bắc

Cảm nhận về bộ Câu đối tết của Phó nhòm tây bắc
Trịnh Kim Thuấn


Mỗi khi tết đến Xuân về, người Việt mình thường có nét văn hóa truyền thống làm Câu đối tết. Đúng ngày ông Táo chầu giời, mình vào trang Phó nhòm tây bắc bắt gặp bộ 3 cặp câu đối gửi Táo quân mang lên báo cáo Ngọc Hoàng. Đọc một mạch cứ ngỡ là bài thơ, nhưng đó là những câu đối “tống cựu nghinh tân” giữa năm Giáp Ngọ và năm Ất Mùi. Đọc xong, ngẩn ra, ngỡ rằng PNTB xưa nay chỉ tọ tẹ viết văn, không biết làm thơ, làm câu đối. Ai ngờ bộ câu đối hay và mới! Thế là rút máy điện thoại gọi: “A lô! PNTB đấy à. Vừa gặp Táo nhà Phó nhòm đang trên đường lên giời 23 tháng Chạp. Táo nhà ông tiết lộ bộ ba Câu đối gửi nhà giời năm nay. Thấy có nhiều ý tứ sâu sắc, Thuấn tôi viết mấy lời cảm nhận (Không phải bình loạn đâu). Có gì không phải bỏ qua nhé!”

Thứ Tư, 14 tháng 1, 2015

3798. Một tập thơ sính chữ, sáo nhàm và khô cứng

Một tập thơ sính chữ, sáo nhàm và khô cứng
Posted on  by nguyentrongtao
NguyenThanhMungGIO

PNTB: Quả là thẩm thơ chẳng dễ chút nào. Đến như Hội đồng thơ Quốc gia có thể vẫn bị "hớ"(?), huống chi có "nhà thơ làng" cứ làm được mấy bài... văn vần là vỗ đùi đen đét, tự sướng, được khen một câu là về mất ngủ, không được khen thì... buồn!.

NTT: Tập thơ NGỮ PHÁP GIÓ của Nguyễn Thanh Mừng mới xuất bản đã có vài bài phê bình, giới thiệu trên báo trung ương và báo địa phương. Tối nay, tôi nhận được qua Email bài viết dưới đây của Văn Khúc, một bút danh là lạ. Văn Khúc không hào hứng với tập thơ này và cho rằng cả người viết Lời giới thiệu đầu sách cũng “đặt ra cho tôi nhiều câu hỏi”. Mời bạn cùng xem:

Chủ Nhật, 12 tháng 10, 2014

3402. Điểm danh THẬP LOẠI GIÁO SƯ

Các loại người trong tác phẩm khuyết danh:

”Văn Tế Thập Loại Giáo Sư” 
Nguyễn Trần Sâm

Năm 2010, trên hàng chục (có thể hàng trăm) trang mạng xuất hiện tác phẩm khuyết danh Văn Tế Thập Loại Giáo Sư (gọi tắt là Văn Tế). Về hình thức, đây không phải loại văn tế đặc trưng mà là thơ song-thất-lục-bát, bắt chước Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh của Cụ Tiên Điền. Tôi đọc và thực sự kính phục tác giả của nó. Trong vỏn vẹn 392 chữ, tác giả đã vẽ nên một bức tranh hiện thực sinh động về cuộc đua chen mua bằng bán tước, với tài dùng từ ngữ không chê vào đâu được, từng từ được chọn lựa đắt đến mức không thể nào thay thế nổi. Tôi nghĩ tác phẩm này xứng đáng được đưa vào sách giáo khoa Văn của các thế hệ sau.

Thứ Sáu, 2 tháng 5, 2014

2312.Tục ngữ có thần bí?

Tục ngữ có thần bí?


Nguyễn  Đức Dương /Theo Văn Việt

0. Bên cạnh hàng loạt câu đọc lên ai cũng hiểu được ngay (như “Ác tắm thì ráo; sáo tắm thì mưa”, “Cám treo heo nhịn đói”, “Chị ngã em nâng”, “Chớp đông nhay nháy gà gáy thì mưa”, “Gần mực thì đen; gần đèn thì sáng”, “Gầy là thầy cơm”, “Gió thổi là chổi trời”, “Én bay thấp mưa ngập bờ ao; én bay cao mưa rào lại tạnh”, v.v. và v.v.), kho tục ngữ [TN] Việt còn có không ít câu ít nhiều khó hiểu, nhất là đối với những ai đã lỡ quen với hệ ngữ pháp Chủ–Vị vốn đậm màu “dĩ Âu vi trung” (lấy châu Âu làm trung tâm), mà nhà ngữ học Cao Xuân Hạo từng bài bác gay gắt. Đâu là nguyên do gây nên điều đó? Mục đích chính của bài này là thử trả lời thật thuyết phục câu hỏi vừa nêu.

Thứ Tư, 30 tháng 4, 2014

2296.Về những kẻ đốt đền

Về những kẻ đốt đền

Nguyễn Thế Duyên
Giáo sư, anh hùng lao động
 Vũ Khiêu
Dạo này, khi cái độc quyền về thông tin của nhà nước bị internet cướp mất, chúng ta mới ngã ngửa người ra là trong đám ráo sư quốc doanh có rất nhiều ông có lắm vấn đề cả về nhân cách lẫn tri thức. Nhưng thôi! Đừng bàn đến họ cho tốn thời gian và giấy mực. Trong phần này tôi chỉ xin đề cập đến hai vị hiện đang nổi đình, nổi đám trong giới văn chương đó là giáo sư Vũ Khiêu và một ông vô danh tiểu tốt Đỗ Minh Xuân, một kĩ sư cơ khí đang ( Nói như một người nào đó) lắp ráp lại truyện Kiều bằng Cờ lê và búa.

Thứ Ba, 29 tháng 4, 2014

2285.Cười té ghế hay đau thắt lòng với chữ sửa Truyện Kiều?

Cười té ghế hay đau thắt lòng 

với chữ sửa Truyện Kiều?


Đặng Vỹ

Mỗi từ, mỗi câu trong Truyện Kiều là mỗi viên ngọc long lanh trong kho tàng ngôn ngữ và văn chương Việt Nam, điều đó có lẽ không cần phải bàn. Nhưng nay có lẽ phải bàn lại vì có người… chê dở, và đã sửa tới 1/3 tác phẩm!

Thứ Tư, 23 tháng 4, 2014

2237.Nghịch lý văn chương và thông điệp đẫm máu

Nghịch lý văn chương 

và thông điệp đẫm máu


PNTB: Muốn tiếp cận chân lý cần nhìn sự vật ở nhiều góc độ. Đọc những bài "choang" nhau như thế này có lẽ mở ra cho đầu óc con người dần tiếp cận chân lý, chứ mắt cứ dán mãi vào một điểm thì...làm sao nhớn lên được?
------------------------------

Nhân đọc “PGS.TS. Phan Trọng Thưởng: Để hiểu rõ hơn thực chất của một luận văn” đăng trên vanvn.net ngày 19.4.2014 

Hà Nhân

Chủ Nhật, 9 tháng 3, 2014

1768.Nguyên khí” và thân phận kẻ sĩ mọi thời

Nguyên khí” và thân phận kẻ sĩ mọi thời

Đặng Văn Sinh
Cuối năm 2013, bản thảo Nguyên khí của nhà văn Hoàng Minh Tường được NXB Tri thức cấp giấy phép, nhưng chỉ một thời gian sau, không biết vì nguyên nhân gì, Cục Xuất bản lại có lệnh thu hồi. Nhà xuất bản Dân khí thuộc Diễn đàn Xã hội dân sự nhận thấy đây là cuốn tiểu thuyết có nhiều sáng tạo về nội dung cùng với phong cách văn chương đặc sắc, nên đã kịp thời ấn hành vào đầu năm 2014 để đem đến cho bạn đọc một cách nhìn mới về thân phận người trí thức Việt Nam qua Vụ án Lệ Chi Viên.
Dưới đây Bauxite Việt Nam xin giới thiệu bài phê bình của nhà văn Đặng Văn Sinh về cuốn tiểu thuyết này.
Bauxite Việt Nam

Mở đầu tác phẩm, Hoàng Minh Tường dẫn lời Thân Nhân Trung soạn cho văn bia tiến sĩ đề danh khoa thi năm Nhâm Tuất (1442), trong đó có đoạn “…Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công cần thiết…”. Lấy Nguyên Khí làm tựa đề, người đọc không mấy khó khăn cũng hiểu được tư tưởng chủ đạo của nhà văn khi ông viết cuốn tiểu thuyết lịch sử này. Nói cách khác, Nguyên khí chính là hồ sơ tổng hợp dưới dạng văn chương của giới trí thức Việt Nam thời kỳ chế độ phong kiến thông qua hình tượng điển hình: Nguyễn Trãi – Nguyễn Thị Lộ. 

Qua tư liệu lịch sử từ các văn bản chính thống còn lại, người ta nhận ra, có một sự khác biệt căn bản nếu so với các vương triều phong kiến chuyên chế trước và sau nó. Đó là việc sát hại hoặc vô hiệu hóa hàng loạt công thần khai quốc ngay khi chính quyền vừa mới được kiến lập theo phương thức “điểu tận cung tàng”, dẫn đến khủng hoảng chính trị mà mãi mấy chục năm sau Lê Thánh Tông mới khắc phục được.

Bối cảnh của tiểu thuyết Nguyên khí được xây dựng vào đúng giai đoạn “nhạy cảm” ấy. Đây cũng chính là thời kỳ mà người trí thức phong kiến bộc lộ rõ bản chất nhu nhược của họ, tuy có tài kinh bang tế thế, nhưng bị chi phối bởi tư tưởng trung quân mù quáng, lại không có thực quyền trong tay, nên đành mang tiếng là hèn, chịu khuất phục trước cường quyền để bảo toàn mạng sống. Có thể nói, ngay sau khi lưỡi đao tàn độc của hoàng hậu Nguyễn Thị Anh cướp đi sinh mạng 217 nạn nhân, vụ thảm án Lệ Chi Viên đã đặt ra những câu hỏi lớn về lương tâm, trách nhiệm và luật pháp đối với nhà cầm quyền. Biết rõ là một vụ án oan, hơn thế, hai nhân vật chính bị hành quyết lại là ân nhân từng cứu mạng, vậy mà Lê Thánh Tông, với tư cách là Nam thiên Động chủ, chỉ dám chiêu tuyết một cách nửa vời. Gần sáu trăm năm qua, lịch sử dường như vẫn còn bỏ ngỏ. Có thể xem, Nguyên khí của Hoàng Minh Tường, chính là cuốn sách trả lời những câu hỏi đó…

Câu chuyện khởi nguồn từ sự kiện tìm ra tập "Long Thành tạp ký" bằng chữ Hán của Ứng Nhân Đoàn Khâm từ năm trăm năm trước gồm 5 quyển ghi chép về Nguyễn Trãi và "Vụ án Lệ Chi Viên" do hai ông "cò" văn hóa Cao - Tháp làm trung gian, và kết thúc cũng bằng một sự kiện động trời, khi bọn trộm, nửa đêm đột nhập vào từ đường họ Đoàn lấy đi bộ sách quý.

Nguyên khí gồm 19 chương và "Phần cuối truyện" được bố trí xen kẽ 16 chương "kể chuyện" lịch sử theo nguyên tác của "Long Thành tạp ký" với 4 chương viết về thời hiện đại kết hợp những đoạn bình luận sắc sảo về thế sự, chính trị, văn chương, cùng những nhân vật có liên quan đến số phận bộ sách cổ là Hoàng giáo sư, “Thọt Bỉ nhân”, Chủ nhiệm Huỳnh Đạo, viên trung tá an ninh Phillip và hai ông quan chức "buôn văn hóa" rất có chính kiến Cao và Thấp.

Kiểu viết xen kẽ xâu chuỗi này không mới ở tiểu thuyết hiện đại, nhưng với tiểu thuyết lịch sử, nhất là lịch sử Việt Nam, thì đây là tác phẩm đầu tiên sáng tác theo khuynh hướng này. Đương nhiên ta có thể coi đó là sự đổi mới về mặt thi pháp.

Yếu tố hiện thực và yếu tố hư cấu luôn song hành tạo nên những trường đoạn kịch tính, dẫn dụ người đọc như là lạc vào một không gian nghệ thuật đầy màu sắc với những mối quan hệ rằng rịt, phản ánh tinh thần lịch sử thời đại và hai nhân vật ở trung tâm là Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ. Đọc Nguyên khí, người ta cảm thấy như bị đắm chìm trong không khí lịch sử thời Lê sơ, nhưng bỗng chốc lại "bị" tác giả kéo về thời hiện đại với những vấn đề thời sự xã hội nóng bỏng, buộc ta không thể ngoảnh mặt làm ngơ mà phải trăn trở, suy ngẫm về tương lai đất nước, dân tộc…

Về hình thức, Nguyên khí được xem như loại tiểu thuyết chương hồi, bao giờ cũng được mở đầu bằng câu "Bây giờ lại nói về..." hoặc “Lại nói về…”, nhưng hơi văn, mạch văn, khí văn và nhất là cách xử lý bố cục, tình huống và hình tượng nhân vật thì hoàn toàn hiện đại. Có thể nói, ở đây, tác giả chỉ sử dụng lối "giễu nhại" như một kiểu hoạt kê của loại tiếu lâm dân gian, còn hồn cốt của nó vẫn luôn "chính tắc", tuân thủ khá nghiêm túc thi pháp tiểu thuyết lịch sử.

Thực ra, Nguyên khí không chỉ dừng lại ở một tiểu thuyết lịch sử, cho dù Hoàng Minh Tường đã thành công trong việc dùng hình tượng văn học tôn vinh hai nhân vật lịch sử lỗi lạc đầu triều Lê: Ức Trai tiên sinh và Đức Bà Lễ nghi học sĩ. Nguyên khí còn mang phong cách của một chuyên luận bằng hình tượng, nghiên cứu về thân phận người trí thức Việt xuyên suốt các thời đại trong mối tương quan với nhà cầm quyền, từ đó quy nạp được bản chất của tầng lớp nguyên khí này như một hiện tượng có tính phổ biến.

Kết cấu "xâu chuỗi" có vẻ như khá tương thích với phương pháp sáng tác "Hậu hiện đại". Các sự kiện diễn ra trong tiểu thuyết không liên tục theo nguyên tắc tuyến tính mà luôn bị gián cách về không gian, thời gian, tạo nên những khoảng lặng để người đọc suy nghĩ, phán đoán và đưa ra những kết luận của riêng mình. Có thể thấy cách bố cục “phân mảnh” mang lại hiệu quả đáng kể đối với sự tiếp nhận của người đọc. Ví dụ đang viết về người nữ tượng nhân tài hoa Bùi Thị Hý với những lò gốm Chu Trang nổi tiếng một thời bằng lối hành văn truyền cảm đầy ma lực thì bất chợt tác giả nhảy cóc năm thế kỷ, kể về cái chân thọt của Bùi La Việt bị xe tăng cán phải trong đêm cùng với Tiểu Mẫn tham gia biểu tình trên quảng trường Thiên An Môn. Đáng chú ý hơn là lời kể của tác giả mang đậm phong cách giễu nhại của tiểu thuyết Hậu hiện đại về một sự việc hoàn toàn không có gì đáng cười. Hay, vừa dứt chương “Sử thần Ngô Sĩ Liên” hoàn toàn nghiêm túc, ẩn dụ về cái hèn truyền kiếp của những trí thức được gọi là kẻ sĩ trước cường quyền thì nhà văn lại dẫn ra một hình ảnh khá là bi hài, tạo nên trận cười ra nước mắt ở chương “Chủ nhiệm Huỳnh Đạo”. Ấy là vào ngày 17 tháng 12, các thành viên ban lãnh đạo CLB rủ nhau ra viếng hương hồn liệt sĩ ở Đài Bắc Sơn Hà Nội. Lúc mới đầu các vị hăng hái lắm, thế nhưng đến khi công an chặn đường cùng với những lời thuyết phục của Phillip, thế là đoàn bị cắt đuôi, chỉ còn mỗi hai người đi đầu.

Có thể nói tính giếu nhại ở đây đã tham gia với tư cách là một phương tiện biếu đạt tư tưởng thẩm mỹ, không chỉ giới hạn ở những chương thuộc về thời hiện tại, mà ngay cả với lịch sử, đôi khi tác giả cũng sử dụng thủ pháp này. Điển hình hơn cả là đoạn Lê Nhân Tông chưa đủ hai tuổi được đặt lên ngôi Hoàng đế, dưới sự nhiếp chính của Hoàng thái hậu Nguyễn Thị Anh. Ông vua nhí này lúc lâm triều, bỗng nhiên “phịch một bãi ra hoàng bào rồi ngỏng chim tè vào mặt các quan đại thần”. Ấy vậy mà các quan xúm nhau lại xưng tụng đó là điềm lành.

Tuy nhiên tính giễu nhại đậm đặc hơn cả thường được tác giả gài vào các trang bình luận hành trạng của hai cán bộ “buôn văn hóa” với những mánh khóe lừa bịp ông trưởng họ Đoàn về 5 cuốn sách cổ cũng như những lời tự trào phảng phất thói lưu manh qua những toan tính thớ lợ.

Cao và Thấp là hai nhân vật khá độc đáo được miêu tả cả ngoại hình lẫn hành vi một cách khái quát nhưng rất điển hình, rất sinh động cho một kiểu nhân vật có tính cách phức tạp. Hai nhà văn hóa này có thể được xem như những cá thể được hình thành sau quá trình phân mảnh tiểu thuyết tiêu biểu cho khuynh hướng Hậu hiện đại. Họ hiện diện trong Nguyên khí chỉ là nhân vật ngoại biên, nhưng thực ra lại là nguyên nhân của mọi nguyên nhân. Đó là cặp bài trùng thuộc loại “lưỡng cư” mang gene đột biến xuyên suốt sáu thập kỷ, không tìm thấy ở bất cứ bộ tiểu thuyết sáng tác theo phương pháp Hiện thực XHCN nào trước đây. Dưới con mắt của nhà chức trách thông qua trung tá Philip, thì Cao và Thấp là “hai ông buôn văn hóa”, nhưng thực chất họ là những con người đầy bản lĩnh, có học vấn đáng nể và một phông văn hóa không “lùn”. Nếu chỉ xét về ngoại hình (đối lập nhau như Don Quijote - Sancho Panza), và cách chơi sành điệu (xe hơi Vios, bật lửa Zippo khủng, tẩu thuốc nạm vàng 24k vốn là vật tùy thân của cụ Nguyễn) cũng như những lời thì thầm bàn nhau âm mưu chiếm đoạt bộ “Long thành tạp ký” để bán cho một đại gia chơi đồ cổ Sài Gòn, thì ta không còn phải băn khoăn khi xếp họ vào thành phần văn hóa lưu manh. Có điều, nếu chỉ như thế thì Cao và Thấp không phải là nhân vật đáng quan tâm. Cái khác người ở Hoàng Minh Tường là, ông đẩy hai “nhà buôn” này lên một cấp độ mới, thoát ly hẳn hệ thẩm mỹ truyền thống như là một sự đổi mới thi pháp tiểu thuyết. Nói chính xác, ngoài phẩm chất lưu manh, Cao và Thấp còn là sản phẩm tất yếu của thiết chế văn hóa thời đại mới được hình thành mấy chục năm gần đây, bao hàm cả mặt sáng và phía âm u của nó. Nếu như, lúc ở nhà ông trưởng họ Đoàn, Cao lộ nguyên hình là một con buôn: “Đừng già néo đứt dây. Giá ấy được rồi. Hẹn với nó, nếu có bản gốc, mình chỉ lấy năm mươi ngàn đô…”; hay khi muốn ve vãn giáo sư Hoàng: “Chúng em chỉ là những kẻ sưu tầm văn hóa. Làm giàu cho văn hiến nhiều khi quên cả bản thân mình. Thiển nghĩ đây là một cổ vật, một di sản của cha ông, đã nhận lời dòng họ Đoàn tìm người dịch. Biết là chỉ giáo sư mới xứng tầm làm việc này, nên mới tìm đến đây. Cho phép chúng em để một bản lại để ông anh đọc qua. Nếu thấy nên và cần dịch thì chúng em sẽ thưa chuyện tiếp. Xin gửi ông anh chút quà, gọi là để thỉnh giáo”, thì trong cuộc gặp mặt với chủ nhiệm Huỳnh Đạo và dịch giả Hoàng Nguyên sau này, anh ta có những nhận xét đầy trí tuệ: “Dịch tác giả này (Mạc Ngôn) mà chỉ chuyển ngữ thuần túy là không thành. Người dịch phải mộng du với tác giả, cùng đi với các nhân vật, đi suốt các vùng đất mà tác giả chọn làm bối cảnh” hay: “Con không tin ngòi bút của sử gia họ Ngô lại thẳng được đâu bố ạ. Các vàng Ngô Sỹ Liên cũng không dám chép đúng sự thật. Mấy sử gia được như anh em nhà Thái Sử Bá nước Tề? Kẻ sĩ Long Thành xưa nay đều hèn và run sợ trước quyền lực, trước bả vinh hoa phú quý”.

Tóm lại, Cao và Thấp là một hiện tượng văn hóa, chỉ xuất hiện vào những thời điểm lịch sử nhất định khi mà kiến trúc thượng tầng xã hội không tương thích với cơ sở hạ tầng kinh tế, cần phải được các nhà khoa học hàn lâm nghiên cứu như một đề tài xã hội học. Bởi lẽ, chính Cao và Thấp làm cho cuộc sống của dòng họ Đoàn làng Động cũng như giáo sư Hoàng, chủ nhiệm Huỳnh Đạo, giới văn hóa đô thành sinh động hẳn lên qua sự xuất hiện “Long thành tạp ký” cùng với sự biến mất một cách khó hiểu của nó.

Dưới ngòi bút Hoàng Minh Tường, cái gọi là “Lam Sơn hội” của phe nhóm Nguyễn Thị Anh có gì đó giống như một đảng lục lâm bởi “hội viên” của tổ chức độc tài này gồm toàn những tay đao búa hành xử thông qua tôn chỉ mục đích “Lam Sơn hội là hội cầm quyền”, “còn phe Lũng Nhai còn mình” nên đã thẳng tay trừng phạt 63 trẻ chăn trâu hát bài đồng dao cùng 39 kẻ cừu địch theo điều luật của Hội. Chưa hết, phía sau những kẻ sĩ đáng kính như giáo sư Hoàng, tiến sĩ Bùi La Việt, nhà sử học Huỳnh Đạo, hình như lúc nào cũng có bóng dáng trung tá an ninh Philip. Những “nguyên khí quốc gia” này, hoàn toàn không có quyền miễn trừ, rất có thể bị câu lưu bất cứ lúc nào nếu họ thể hiện lòng yêu nước của mình mà không xin phép nhà chức trách. Tội danh “các thế lực thù địch” đã được đưa vào “Từ điển giễu nhại” trong Nguyên khí không phải chỉ để nói cho vui. Chính vào ngày kỷ niệm 17 tháng 2, ngay dưới chân tượng đài Lê Thái Tổ bên hồ Hoàn Kiếm đã có một số thanh niên biểu tình chống ngoại xâm bị …”nhập kho”. Từ sự kiện chiếc quần lót phụ nữ dùng dở vứt trong thùng rác phòng nghỉ, viên trung tá an ninh “phá” được một vụ án quan trọng đã ngầm đưa đến cho người đọc thái độ giễu nhại. Nhưng kịch tính của câu chuyện còn được đẩy lên cao trào, làm bất cứ ai cũng phải phá lên cười khi mà cái biên bản do chính ông sĩ quan mẫn cán lập “tại hiện trường” lại biến cái quần chíp che chỗ “nhạy cảm“ của đàn bà thành một thứ danh từ riêng của ngôn ngữ phương Tây. Tuy nhiên sự việc chưa dừng lại ở trình độ chuyên môn của một viên chức nhà nước như Phillip mà người đọc còn đi xa hơn nhờ phương pháp liên văn bản. Chiếc quần lót dùng dở liệu có phải là phiên bản của “hai bao cao su dùng dở” trong vụ án nổi tiếng “vừa tức vừa buồn cười” nhằm hạ gục nhà dân chủ cấp tiến vì ông tiến sĩ này dám kiện đích danh một quan chức chóp bu sau khi ký duyệt dự án cho người nước ngoài khai thác tài nguyên mà không xin phép Quốc hội?

Tính liên văn bản trong Nguyên khí là khá phổ biến. Gần như chương nào cũng có những tài liệu cần tham khảo chẳng những cho người viết, mà còn rất cần thiết cho đối tượng tiếp nhận nếu người đọc muốn có được cái nhìn toàn cảnh câu chuyện phía sau những con chữ (Từ đó có thể thấy tính liên văn bản và giễu nhại được gọi là “hoạt kê” trong tiểu thuyết hư cấu Việt Nam đã có từ trước khi lý thuyết sáng tác Hậu hiện đại được du nhập vào).

Có thể thấy, các văn bản được liên kết với Nguyên khí, kể cả văn bản “hư cấu” là khá phong phú nhưng được “chèn” vào theo nhiều kiểu khác nhau, tạo nên một tổng thể đa dạng trên cơ sở một kết cấu mở, có khả năng kích thích trí tưởng tượng của người đọc, từ đó hình thành những văn bản phái sinh, bổ sung cho văn bản gốc thêm phong phú hoặc đề xuất ý kiến phản biện. Văn bản đầu tiên, tuy chỉ là hư cấu nhưng khá quan trọng, bởi nó được xem như “văn bản gốc”. Đó là “Long thành tạp ký”. Cũng bởi cuốn sách bằng chữ Hán trung đại nên mới nảy sinh bộ ba nhân vật giáo sư Hoàng, nhà sử học Huỳnh Đạo và tiến sĩ Bùi La Việt. Tiếp đó là hàng loạt văn bản được huy động vào quá trình dịch thuật, bình giá nội dung cuốn sách cổ như “Quốc âm thi tập”, “Ức Trai thi tập”, “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Tam triều bản kỷ”, “Bình Ngô đại cáo”, “Vạn Kiếp tông bí truyền thư”, “Hồng Mai bút ký”, các bài đồng dao, “Báu vật của đời’, “Cây tỏi nổi giận”, “Rừng xanh lá đỏ’, “Đàn hương hình”, “Đi tìm cái tôi đã mất”, v.v…

Tất cả những tác phẩm trên, dù là hiện thực lịch sử hay hư cấu nghệ thuật ít nhiều đều liên quan đến thủ pháp liên văn bản. Chỉ cần lấy ví dụ, từ bộ sách chữ Hán “Long Thành tạp ký” cách đây hơn năm trăm năm, mà phải nói trăm phần trăm là hư cấu, Hoàng Minh Tường làm nhóm giáo sư Hoàng Nguyên, “Thọt bỉ nhân”, Cao và Thấp cùng đông đảo bạn đọc phải đau đầu bởi hàng loạt tài liệu phụ trợ đông tây kim cổ phục vụ cho việc dịch thuật. Đó còn chưa nói đến sự bùng nổ thông tin, sự liên tưởng đa chiều về những quan điểm thẩm mỹ trung tâm - ngoại biên, chính thống, phi chính thống, hiệu ứng của tác phẩm văn học và nhận diện đâu là một nền văn hóa chính danh.

Xen kẽ với các chương về Ức Trai tiên sinh, Đức bà Lễ nghi học sỹ bằng lối văn kể nghiêm túc, thấm đẫm tinh thần lịch sử, những chương viết về tượng nhân Bùi Thị Hý, ni cô Tiểu Mai hay chàng Nguyên Phong lại vô cùng hấp dẫn, đôi khi phóng túng, phá cách của tiểu thuyết hiện đại, nhưng hết thảy đều mang dấu ấn sáng tạo. Qua nhân vật Bùi Thị Hý, người ta mới hiểu được một thời rực rỡ của nghề làm gốm Chu Đậu vùng Nam Sách. Mối tình nồng nàn giữa đôi trai tài, gái sắc Tiểu Mai - Nguyên Phong khiến ni cô mười bảy tuổi giã từ cửa Phật là bài ca đẹp làm người đọc bâng khuâng.

“Thọt bỉ nhân” cũng là một nhân vật cần phải bàn của Nguyên khí. Ngoại trừ nhân thân rất phức tạp bởi hai dòng máu, hai quốc tịch và những hoạt động dân chủ khiến nhà đương cục lúc nào cũng chiếu cố “chăm sóc”, Bùi La Việt là nhà nghiên cứu Hán Nôm có trình độ uyên bác, đồng thời là nhà ngoại cảm có thể giao tiếp được với hồn người chết. “Thọt bỉ nhân” là tính cách hư cấu đầy sáng tạo trên cơ sở một vài hình mẫu thực ngoài đời. Anh cũng chính là mắt xích quan trọng trong việc làm rõ nỗi oan khuất của vụ án Lệ Chi Viên.

Cuộc “nói chuyện” với quan thổ địa họ Phạm cùng Lê Thái Tông, thực chất giống như lời khai của nhân chứng đồng thời cũng là người bị hại trước Tòa đại hình. Tất cả chứng cứ mà Lê Nguyên Long đưa ra trong âm mưu đầu độc của phe nhóm Nguyễn Thị Anh dường như đều phù hợp với những suy luận của chúng ta, hoàn toàn khác với chính sử. Đây chính là góc khuất của lịch sử một khi lịch sử bị nhóm lợi ích Lam Sơn của những quyền thần đầy tham vọng như Nguyễn Phù Lỗ, Lương Đăng, Tạ Thanh thao túng. Đến đây ta càng thấm thía lời cảm thán của giáo sư Hoàng Nguyên: “Buồn nhất là một xã hội không sòng phẳng, một xã hội xử lý mọi vấn đề quốc gia đại sự bằng những hộp đen. Cụ Phan Phu Tiên, cụ Ngô Sỹ Liên cũng cùng một duộc như kẻ sĩ chúng ta bây giờ mà thôi. Người ta cắt cái sổ hưu là mình toi. Con cháu mình mất đường sống. Biết bao cây bút cùn mòn không viết nổi. Tài danh như nhà văn Nguyễn Khải mà trước khi chết phải thổ ra một bãi huyết 19 trang “Đi tìm cái tôi đã mất” rồi mới chết nổi… Nhà cầm quyền coi vương triều và quyền lực như một cái hộp đen, chỉ riêng họ biết và định đoạt. Mọi nhà nước độc tài bây giờ cũng là một phiên bản khác của phong kiến mà thôi. Họ muốn cha truyền con nối, muốn duy trì quyền lực vĩnh viễn. Họ đâu cần một xã hội công dân…”.

Bùi La Việt là nhà văn hóa đích thực, có sự đóng góp quan trọng vào việc dịch và chú thích quyển năm “Long thành tạp ký”. Xây dựng chân dung Bùi La Việt, Hoàng Minh Tường huy động khá nhiều nguồn dự trữ tư liệu lịch sử chính thống cũng như phi chính thống, trung tâm cũng như ngoại biên, cộng với vốn kinh nghiệm phong phú của một cây bút tiểu thuyết thuộc vào hàng đầu của nền văn học Việt Nam.

Như trên đã nói, cũng như giáo sư Hoàng, Bùi La Việt là một nhân cách văn hóa, nhưng cũng khác giáo sư Hoàng ở chỗ, anh là một trí thức dấn thân, bất chấp cường quyền, sẵn sàng “nhập kho” bất cứ lúc nào nhưng không thể không tham gia những cuộc biểu tình yêu nước ôn hòa chống xâm lược. Tuy nhiên, cách miêu tả ngoại hình cũng như hành trạng của “Thọt bỉ nhân” lại được tác giả sử dụng lối hài hước, phúng thích, thậm chí gây cười ngay cả với những độc giả nghiêm túc. ”Thọt bỉ nhân”(kẻ thọt hèn kém) chính là cái tên do Bùi La Việt tự đặt cho mình, đồng thời cũng là tên một trang web của anh cùng với vốn kiến thức phong phú của một tiến sĩ xã hội học, khiến anh nổi tiếng khắp Hà thành. Nhận xét của “Thọt bỉ nhân” về công lao và vai trò chính khách cấp tiến của Triệu Tử Dương cũng như những câu hỏi thông minh đặt ra với vong hồn vua Lê Thái Tông càng chứng tỏ anh chàng tiến sĩ lãng tử này là một cao nhân. Tiểu thuyết Nguyên khí có thể thiếu đi trung tá Philip, thiếu ông “Lỗi hệ thống’ hay ông “Sổ hưu” nhưng không thể thiếu “Thọt bỉ nhân”. Bùi La Việt trong một bố cục phân mảnh bởi cả không gian và thời gian, cả ý thức hệ cũng như tâm thức lịch sử, luôn hiện diện trong tiểu thuyết như một chiếc cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giữa thế giới âm tào lắm oan hồn và cõi dương gian đầy ma quỷ. Thiếu Bùi La Việt, Nguyên khí hẳn là sẽ giảm sức hấp dẫn, cho dù Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ vẫn là hình tượng trung tâm sáng ngời nhân cách, lấp lánh trí tuệ.

Trong sự dẫn dắt mạch truyện, cảnh hành hình 217 nạn nhân được tác giả sử dụng lối miêu tả gián cách, trong đó chỉ có vài dòng thoáng qua về những người phụ nữ mang thai và cả những đứa trẻ còn ẵm ngửa nhưng cũng làm người đọc đứng tim bởi sự dã man, tàn bạo đến tận cùng của của đám “Lam Sơn hội”. Nỗi oan khiên làm cho trời sầu đất thảm, mây mù vần vụ, khiến chúng ta, với tư cách là đối tượng tiếp nhận, không thể không liên tưởng đến những câu thơ nhỏ máu của nhà thơ Trần Mạnh Hảo:

“Trên đường pháp trường con dâu ta trở dạ
Tiếng cháu thét chào đời như tiếng nghìn chim lợn báo tang
Đội ơn vua ban tã lót
Để cháu khỏi bị chém trần truồng trên thớt!
Ôi con đường ba họ ta đến nơi thọ hình
Sao dài hơn đường mười năm Lam Sơn phò Thái Tổ”.

(Nguyễn Trãi trước giờ tru di)

Sợ đối diện với công lý, sợ hãi nhân dân, và nhất là sợ bị cướp pháp trường, Nguyễn Thị Anh và đồng bọn không dám công khái xử án trước thanh thiên bạch nhật mà lại dựng lên một phiên tòa giả ở Ô Cầu Bò để đánh lừa bách tính. Một triều đại phế bỏ pháp luật, sợ dân như sợ cọp, đám quan lại tham nhũng, đục khoét lương dân, trong khi “Lam Sơn hội” lại có quyền tối thượng định đoạt vận mệnh quốc gia, coi người trí thức như kẻ tôi đòi, thì vương triều ấy hiển nhiên không phải chính danh. Một triều đình mà quan chức hành xử giống như đám lục lâm thảo khấu (chữ của Nguyễn Huy Thiệp trong truyện ngắn “Nguyễn Thị Lộ”) không bao giờ dung nạp được những nhân cách lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ, Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo. Giết vợ chồng Nguyễn Trãi đồng nghĩa với việc thủ tiêu nguyên khí quốc gia. Cho nên, không có gì lạ, nhà Hậu Lê cũng chỉ hưng thịnh được khoảng vài chục năm thời Lê Thánh Tông, còn sau đó rơi vào tình trạng khủng hoảng triền miên dẫn đến cuộc nội chiến Trịnh Nguyễn phân tranh, kéo dài gần hai trăm năm gây ra bao thảm cảnh, đất nước tan hoang, lòng người ly tán.

Cuối cùng, để khép lại bài viết , không thể không có đôi lời với các nhà chép sử. Đọc xong Nguyên khí, người ta có quyền nghi ngờ độ trung thực của các cuốn thông sử vốn được coi là văn bản chính thông có đầy đủ tư cách pháp nhân để hậu thế soi vào đấy mà sửa mình thành chính nhân quân tử. Qua vụ án “Lệ Chi Viên”, người đời còn ngộ ra một điều nữa là Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ bị chết đến hai lần. Lần thứ nhất là bởi “Lam Sơn hội”, tức triều đình phong kiến chuyên chế dưới bàn tay dàn dựng của Thái hậu Nguyễn Thị Anh. Lần thứ hai bởi Ngô Sỹ Liên và các sử thần trong Quốc sử quán. Cuộc diện kiến Nguyễn Thị Anh và cái chức Đô ngự sử, đã biến Ngô Sỹ Liên từ một tân khoa tiến sĩ có hùng tâm tráng chí, thành kẻ bồi bút chuyên “sáng tác” Quốc sử, phục vụ mưu đồ đen tối của tập đoàn thống trị độc tài.

Ngô Sỹ Liên chính là hình ảnh tiêu biểu cho tầng lớp trí thức Đại Việt, bị nhà cầm quyền khinh bỉ như những thân phận hèn kém, và sử dụng như gã thư lại, sẵn sàng bẻ cong ngòi bút trước bạo lực và bả vinh hoa. Chính bởi những sử gia như Ngô Sỹ Liên, lịch sử dân tộc Việt, trong khá nhiều trường hợp, không phản ánh đúng diện mạo xã hội đương thời, dẫn đến tình trạng, các thế hệ sau nhận thức rất mù mờ về cha ông mình. Ta hãy đọc lại đoạn ghi chép rất tùy tiện về vụ án “Lệ Chi Viên” trong ĐVSKTT thì sẽ biết được tư cách kẻ sĩ của Ngô Sỹ Liên: “…Trước đây, vua thích vợ Thừa chỉ Nguyễn Trãi là Nguyễn Thị Lộ, người đẹp, văn chương hay, gọi vào cung cho làm Lễ nghi học sĩ, ngày đêm hầu bên cạnh. Đến khi đi tuần miền Đông, về đến vườn Lệ Chi xã Đại Lại trên sông Thiên Đức, vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ rồi băng (…). Mọi người đều nói là Nguyễn Thị Lộ giết vua”. Không chỉ cố tình chép sai sự thật mà sử gia họ Ngô còn nhẫn tâm thả một lời bình rất bất lương (chữ của nhà văn Hoàng Quốc Hải) về Đức bà Lễ nghi học sĩ: “Nữ sắc làm hại người quá lắm. Thị Lộ là một người đàn bà thôi, Thái tôn yêu nó mà thân phải chết, Nguyễn Trãi lấy nó mà cả họ bị diệt, chẳng nên răn lắm ru?” (ĐVSKTT, tập III, bản dịch, NXB KHXH, 1972, trang 131).

Với Ngô Sỹ Liên, lịch sử không phải là tấm gương để hậu thế soi vào để sửa mình, thực chất là dùng những lời hoa mỹ dối trá tô vẽ cho chế độ đương thời cho dù đấy là một vương triều độc tài đầy tội ác. Để kiểm chứng ngòi bút “ngụy sử” của họ Ngô, độc giả chỉ cần tham khảo thêm một chi tiết trong “Chiếu đại xá thiên hạ” của Lạng Sơn vương Nghi Dân sau khi thanh toán mẹ con Nguyễn Thị Anh, lên ngôi Hoàng đế: “Trẫm là con trưởng của Thái Tôn Văn hoàng đế, ngày trước đã làm Hoàng thái tử, không may Tiên đế đi tuần miền đông, bỗng băng ở ngoài, Nguyễn thái hậu muốn vững quyền vị, ngầm sai Tạ Thanh dựng Bang Cơ làm vua, cho trẫm làm phiên vương. (…) Cho nên từ đó đến giờ, hạn sâu liên tiếp, tai dị xảy luôn, đói kém lưu hành, nhân dân cùng khốn. Diên Ninh ( tức Nhân Tông) tự biết không phải là con của Tiên đế, vả lại lòng người lìa ta, ngày mồng 3 tháng 10 năm nay khiến trẫm thay ngôi…”. (ĐVSKTT, tập III, bản dịch, NXB KHXH, 1972, trang 170).

Như vậy, chân dung sử thần Ngô Sỹ Liên, được Hoàng Minh Tường tái hiện là có cơ sở khoa học từ những sử liệu đáng tin cậy. Đến đây, chúng ta cũng có thể mượn lời của chính vị Đô ngự sử đài, nói ngược lại theo kiểu giếu nhại của khuynh hướng sáng tác Hậu hiện đại như sau: “Sỹ Liên chỉ là một thái sử lệnh, bị Nguyễn Thị Anh vừa dọa dẫm vừa mua chuộc, đến nỗi bán rẻ cả nhân cách kẻ sĩ. Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ là bậc trung thần, vì ngòi bút “ngụy sử” của họ Ngô mà phải chết đến hai lần, há chẳng đáng trách lắm ru?”.

Chí Linh, năm Quý Tỵ, rằm tháng Bảy, mùa Vu Lan
Đ.V.S.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

1640.HỮU THỈNH - Cánh đồng thơ mất trắng

HỮU THỈNH - Cánh đồng thơ mất trắng


       
* ĐỖ HOÀNG
     Trong thế hệ các nhà thơ chống Mỹ... nhà thơ Hữu Thỉnh xuất hiện quá muộn và không nổi tiếng vì tài thơ của ông quá dưới mức trung bình trong dòng thơ cổ động, tụng ca chế độ. Mãi đến cuối năm 1975, ông mới ra tập thơ “Âm vang chiến hào” – in chung cùng Lâm Huy Nhuận. Lâm Huy Nhuận đã nổi tiếng với chùm thơ đoạt giải nhì cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1972 – 1973 với tinh thần thơ khẩu hiệu “Mẹ tập con đi, Đảng dạy con đi – (Lâm Huy Nhuận)”.Nhà thơ Phạm Tiến Duật viết bài in trên báo Tiền Phong rất đúng là: Khi ông đã trở thành nhà thơ rất nổi tiếng thì Hữu Thỉnh chưa thành tác giả.

Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014

1609.Người ra đi vội vàng như chưa kịp...

Người ra đi vội vàng như chưa kịp...


Trần Đăng Khoa

Nguyễn Đình Chiến ra đi là một tổn thất không gì bù đắp được. Tôi từng sống với Nguyễn Đình Chiến nhiều năm ở Matxcova, nên có rất nhiều kỷ niệm với anh và bạn bè Nga. Cách đây mấy hôm, Nguyễn Đình Chiến còn điện cho tôi, báo tin anh đã viết xong Trường ca Mikhaiil ILLarionoviich Kutuziov, một vị tướng thiên tài Nga, người đã đánh bại Napoleon Ponaparte. Sau trường ca này, anh sẽ viết tiếp Trường ca Võ Nguyên Giáp.

Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014

1549.Nguyễn Duy - chữ nghĩa hồn rơm rạ

Nguyễn Duy - chữ nghĩa hồn rơm rạ


Tự nhiên gần đến Tết tôi lại nhớ quê, ưa về với quê hương, với mảnh ruộng cằn, nương cát trắng một miền cửa biển đầy sóng và gió, với những người bà con đồng hương cật ruột lam lũ một nắng hai sương choàng mảnh nilông lội bùn suốt ngày giữa mưa và gió rét. Nỗi niềm day dứt đó khiến tôi nhớ Nguyễn Duy - đúng hơn là nhớ thơ Nguyễn Duy - người thổi hồn của rơm rạ, gạch ngói, tre nứa, bờ ao, gốc rạ, con vịt con trâu, con đom đóm... của làng quê vào thơ hiện đại Việt Nam. Và tôi cũng lấy hai câu ca dao mà Nguyễn Duy lấy để ở trang đầu tập thơ hiện đại: Thơ Nguyễn Duy - Sáu & Tám, NXB Văn học 1994 làm đề tựa cho bài viết của mình.

Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

1539.Dĩ hư truyền hư- kỳ 2

Dĩ hư truyền hư- kỳ 2

Những sai lầm mang tính hệ thống trong “TỪ ĐIỂN THÀNH NGỮ VÀ TỤC NGỮ VIỆT NAM” của GS Nguyễn Lân 


 Hoàng Tuấn Công 
 Kỳ 2"Bò lành đánh bò què", giải thích sai về các sự vật, hiện tượng, kinh nghiệm dân gian, “Tiền hậu bất nhất”.
Thành ngữ, tục ngữ thường có nhiều dị bản, gần nghĩa hoặc đồng nghĩa. Người làm từ điển có thể thu nhận tất cả để độc giả tham khảo và chọn ra dị bản hay nhất, được sử dụng rộng rãi nhất để giải thích. Thế nhưng, không ít trường hợp GS Nguyễn Lân tự chữa từ trong câu thành ngữ, tục ngữ hoặc phỏng đoán theo ý chủ quan của mình, bác đi dị bản hay nhất, khiến thành ngữ bỗng dưng mất đi cái hay, cái đẹp, sự tinh tế trong ngôn từ của dân gian: