6108. Cải cách Tư pháp: phải bắt đầu từ Thẩm phán
Cải cách Tư pháp: phải bắt đầu từ Thẩm phán
![]() |
Tử tù Hồ Duy Hải Bị cáo trong vụ án Bưu điện Cầu Voi |
I.. SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẨY MẠNH CẢI CÁCH TƯ PHÁP
Một quốc gia muốn văn minh thì phải
có một nền tư pháp văn minh tương thích. Trong một nền tư pháp bệnh tật thì
không bao giờ một quốc gia có thể phát triển thành một “đế chế văn minh”. Nền
tư pháp là “cái lồng nhốt quốc gia”. Quốc gia muốn lớn mạnh thì “chiếc lồng tư
pháp” phải lớn nhanh hơn sự bành trướng của quốc gia. Hoàn thiện tư pháp là
tiến trình song hành không tách rời đảm bảo cho sự tiến bộ mỗi quốc gia. Việt
Nam muốn bay lên thì nền tư pháp Việt Nam phải bay lên cùng lúc.
Bởi thế, Nhà nước CHXHCN Việt Nam
luôn quan tâm đến nền tư pháp. Trong các Văn kiện Đại hội Đảng (IX- XII) đều đề
cập đến Cải cách Tư pháp (CCTP). Đặc biệt, ngày 02/6/2005, Bộ Chính trị đã ban
hành Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược CCTP đến năm 2020.
Tuy vậy, CCTP tiến hành rất chậm và
chưa hiệu quả. Cụ thể, trong Văn kiện Đại hội XII đã chỉ rõ: “Việc triển khai
một số nhiệm vụ cải cách tư pháp còn chậm; vẫn còn tình trạng nhũng nhiễu, tiêu
cực, oan, sai, bỏ lọt tội phạm” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XII. Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 110).
Trên thực tế, án oan sai mỗi ngày
chẳng những không bớt đi, mà còn dài thêm dằng dặc với mức độ sai phạm
lớn hơn. Vụ án Hồ Duy Hải đang gây chấn động xã hội, và đang đặt ra nhiều vấn
đề cấp thiết cho CCTP.
Không ai bảo vệ cho Hồ Duy Hải nếu
Hồ Duy Hải thực sự phạm tội. Vấn đề cốt lõi là phải chứng minh vững chắc Hồ Duy
Hải phạm tội. Những chứng lý mà tòa án sơ thẩm và phúc thẩm đưa ra chưa đủ cơ
sở pháp lý để buộc tội Hồ Duy Hải. Bởi thế, để đảm bảo không oan sai cần thiết
phải điều tra lại vụ án Hồ Duy Hải. Công luận kiên trì đòi hủy án tử hình Hồ
Duy Hải để điều tra lại, cũng một phần là vì các vụ án oan kinh rợn gần đây đều
do bị ép cung mà nhận tội. Xin nêu tóm tắt 3 vụ án oan điển hình gần đây - đều
về tội giết người.
Một là vụ án Nguyễn Thanh Chấn. Ông
Nguyễn Thanh Chấn bị kết tội giết người, bị kết án tù chung thân, và bị công an
Bắc Giang bắt giam ngày 29/3/2003. Ông Nguyễn Than Chấn kêu oan nhưng TAND tối
cao bác đơn kêu oan của ông Chấn mà y án sơ thẩm. Mặc dù ông Chấn liên tục kêu
oan ở cả 2 phiên sơ thẩm và phúc thẩm, nhưng tòa dựa vào biên bản nhận tội của
ông Chấn tại cơ quan điều tra để tuyên án. Hơn 10 năm sau, kẻ phạm tội là Lý
Nguyễn Chung ra đầu thú vào ngày 25/10/2013. Ngày 06/11/2013 ông Nguyễn Thanh
Chấn được trả tự do. Ông Nguyễn Thanh Chấn bị ngồi tù oan 3699 ngày.
![]() |
Ông Nguyễn Thanh Chấn bị tù oan 3699 ngày |
Hai là vụ án Huỳnh Văn Nén. Ông
Huỳnh Văn Nén bị công an Bình Thuận bắt giam tháng 5/1995 vì bị kết tội giết
người trong 2 vụ án. Ông Huỳnh Văn Nén bị tuyên án chung thân trong phiên sơ
thẩm ngày 21/8/2000. Ông Huỳnh Văn Nén liên tục kêu oan. Tháng 10/2014 TANDTC
hủy án sơ thẩm để điều tra lại. Ngày 28-11-2015, Công an tỉnh Bình Thuận đình
chỉ điều tra bị can đối với ông Huỳnh Văn Nén. Ông Huỳnh Văn Nén bị ngồi tù oan
17 năm 5 tháng.
![]() |
Ông Huỳnh Văn Nén bị tù oan 17 năm, 5 tháng |
Ba là vụ án Hàn Đức Long. Ông Hàn
Đức Long bị công an Bắc Giang bắt 19/10/2005 vì bị quy tội giết người. Ông Hàn
Đức Long 4 lần bị tòa án cấp sơ thẩm (2 lần) và cấp phúc thẩm (2 lần) tuyên án
tử hình, mặc dù ông Long liên tục kêu oan. Tiếp xúc với luật sư, ông Long khai
đã bị dùng cực hình ép cung. Năm 2014, TANDTC tuyên hủy cả bản án hình sự sơ
thẩm lẫn phúc thẩm lần hai để điều tra lại. Ngày 20/12/2016 VKSND Bắc Giang đã
đình chỉ vụ án và trả tự do cho ông Hàn Đức Long. Ông Hàn Đức Long bị ngồi tù
oan 11 năm 2 tháng.
![]() |
Ông Hàn Đức Long ngồi tù oan 11 năm 2 tháng |
II. NGUỒN GỐC CỦA ÁN OAN
Điều đáng sợ là án oan không đơn lẻ,
mà liên tục diễn ra khắp mọi nơi. Không chỉ về số lượng, mà về mức độ phạm tội,
đều ở khung hình phạt khủng khiếp là chung thân và tử hình. Điều này đòi hỏi sự
cần thiết phải chỉ ra nguyên nhân gây án oan để chữa trị. Có nhiều nguyên nhân
dẫn đến án oan. Dưới đây xin đề cập đến 7 nhóm nguyên nhân chính.
1.ÉP CUNG – NHÓM NGUYÊN NHÂN SỐ 1
CỦA ÁN OAN
Nguồn gốc số 1 của án oan là ép
cung. Bị ép cung trong tình trạng bị đánh đập tàn nhẫn làm cho bất cứ ai cũng
phải nhận tội. Không chỉ nhận tội, mà còn phải diễn tập hiện trường giả làm
hiện trường thật để lấy bằng chứng buộc tội. Buộc tội tù chung thân. Buộc tội
tử hình. Cần thiết phải trích dẫn trường hợp ông Nguyễn Thanh Chấn làm thí dụ
để thấy mức độ tàn bạo của ép cung.
“Ngày 20/9 tôi lên huyện, công an
lấy dấu chân dấu tay của tôi rất nhiều lần, rồi hỏi đi hỏi lại rất nhiều lần.
Tối họ cho về, ngày hôm sau lại lên, gặp cán bộ Nguyễn Hữu Tân, lại dấu chân
dấu tay, rồi đánh tôi rất đau. Tôi kêu: Tôi có giết người đâu mà các anh bắt
tôi nhận? Cán bộ Tân bảo: Cho mày uống thuốc lú cho mày cãi khỏe, mày không
biết rồi mày khắc phải nhận. Từ đó các cán bộ Nguyễn Văn Dũng, Ngô Đình Dung,
Đào Văn Biên, Nguyễn Trung Thành, Tuyến, Trần Nhật Luật thay nhau túc trực suốt
4 – 5 ngày đêm liền bức cung tôi".
"Trong phòng đi cung có một
chiếc giường nhỏ nhưng tôi không hề được nằm một phút nào. Họ đá, họ đấm, họ dùng
dép đánh vào hai bên tai tôi. Đầu óc tôi như nổ tung ra. Họ không cho tôi về,
không cho tôi ngủ, dọa nạt bắt buộc ép tôi thế này ép tôi thế nọ. Như cán bộ
Ngô Đình Dung bắt tôi phải chỉ giấu dao ở đâu? Dưới giếng à? Hay dưới ao? Tôi
bảo tôi có giết người đâu mà giấu dao. Ông Luật bắt tôi vẽ dao, tôi bảo tôi
biết dao nào mà vẽ? Ông Luật bảo tao cho mày một búa vào đầu mày chết bây giờ!
Cán bộ Nguyễn Hữu Tân trên tay lúc nào cũng lăm lăm con dao trên tay hăm dọa
tôi, ép buộc tôi phải nhận…”.
Cuối cùng, đến ngày 29/9. Suốt đời
tôi không quên được giây phút đó. Nước mắt đầm đìa, tôi nghĩ đến những ngày
tháng làm ăn lương thiện, đến mẹ, đến vợ, đến những đứa con thơ ở nhà. Tôi biết
mình làm thế này là ký án tử hình cho chính mình, là có thể không bao giờ còn được
gặp vợ con nữa. Nhưng tôi không còn cách nào khác! Tôi mệt quá, đau quá, sợ
quá! Cứ hành hạ mãi thế này thì chết mất... chỉ mong sao kết thúc càng sớm càng
tốt những giây phút kinh hoàng này. Thế là tôi nhận đã giết người, để dao trong
tủ.
Người ta liền bắt tôi viết đơn tự
thú. Lá đơn đó, chính cán bộ Ngô Đình Dung đọc cho tôi từng câu, từng chữ một.
Rồi người ta bắt tôi đọc to cái đơn đó lên, ghi âm lại. Ngay chiều hôm đó,
người ta cho tôi lên trại Kế. Có ngày chuyển 4 - 5 phòng giam.
Có lần người ta quẳng tôi vào cùng
buồng giam với 4-5 “đầu gấu”, thằng nào cũng to béo, xăm trổ đầy mình. Có thằng
tên là Hồng Hiển bắt tôi "phục vụ" nó. Và suốt cả tháng sau, họ bắt
tôi diễn. Họ làm mẫu cho tôi diễn. Diễn đi diễn lại. Đâm như thế nào. Bế cô
Hoan đập xuống đất thế nào. Đến ngày 30/10, tại trại Kế, họ dựng lại hiện
trường, bắt tôi diễn lại từ đầu tới cuối, chụp ảnh, ghi hình...
2. THAM NHŨNG – NHÓM NGUYÊN NHÂN SỐ
2 CỦA ÁN OAN
Nếu ép cung, buộc nhận tội khi không
có tội - là nguồn gốc số 1 gây nên án oan, thì tham nhũng là nhóm nguyên nhân
số 2 gây ra án oan. Vì tham tiền bạc, tham quyền lực mà làm sai lệch hồ sơ, lập
chứng cứ giả, chấp nhận sự dối trá, và tuyên án ngược với sự thật.
Có vụ án nào mà không phải “chạy”?
Bên nào cũng phải cũng phải “chạy”. Có rất nhiều vụ án mà kết quả xử án phụ
thuộc vào bên nào “chạy mạnh hơn”. “Chạy” quyền, “chạy” tiền, “chạy” tất cả
những nhân tố có thể “chạy”. Những ai đã từng tham gia các vụ kiện thì mới thấy
mức đọ khủng khiếp của tham nhũng trong xử án.
3. TRÌNH ĐỘ ĐIỀU TRA VIÊN YẾU KÉM –
NHÓM NGUYÊN NHÂN SỐ 3
Điều tra viên là người lập hồ sơ vụ
án. Điều tra viên yếu kém gây sai sót trong lập hồ sơ vụ án thì sẽ dẫn đến oan
sai trong xét xử án. Vụ án Hồ Duy Hải là một minh chứng sống động gần đây nhất.
Không bảo vệ hiện trường; đốt bỏ các tang chứng gây án như dao và thớt, rồi mua
ở chợ đem về thay thế; bỏ qua chứng cớ về dấu vân tay; không xét nghiệm máu để
xác định thời gian gây án… Tất cả là do sự yếu kém của điều tra viên mà làm cho
vụ án trở nên phức tạp hơn nhiều.
Ở vụ án Hồ Duy Hải, với xác suất rất
lớn là điều tra viên đã sai lầm trong xác định thời gian gây án. Điều tra viên
đã không xét nghiệm máu để làm cơ sơ xác định thời gian gây án. Nếu xác định
sai thời gian gây án là bỏ lọt tội phạm mà bắt nhầm người. Chính điều tra viên
phải thừa nhận trình độ yếu kém dẫn đến sai sót tại phiên Giám đốc thẩm của
TANDTC hôm 06-08/5/2020. Trình độ yếu kém của điều tra viên là nhóm nguyên nhân
thứ 3 gây nên án oan sai.
4. TRÌNH ĐỘ YẾU KÉM CỦA THẨM PHÁN –
NHÓM NGUYÊN NHÂN SỐ 4
Một nhóm nguyên nhân gây nên oan sai
trong xử án xuất phát từ trình độ yếu kém của thẩm phán. Đây là nhóm nguyên
nhân số 4 của án oan sai.
Bỏ qua sự cố tình, thì thẩm phán
giỏi sẽ phát hiện ra hồ sơ sai do yếu kém của điều tra viên, sẽ nhìn thấy sự ép
cung, sẽ nhìn thấy sự cố ý làm sai lệch án. Quan trọng hơn, thẩm phán giỏi sẽ
nhìn ra những sự thật sau tầng tầng lớp lớp ngụy trang của hung thủ mà thẩm
phán thường không thể nhìn ra. Thẩm phán giỏi còn xử lý được những tình huống
chưa bao giờ xảy ra trong thực tiễn, làm giàu có thêm lý luận và kinh nghiệm xử
án. Trong thực tiễn, luôn xuất hiện những vụ án mới ly kỳ phức tạp chưa từng có
trước đó, mà nhiều khi chỉ tài năng của thẩm phán mới trở thành chiếc chìa khóa
mở được cánh cửa công lý.
Tiếc thay, thực tiễn trong nhiều năm
vừa qua đã chỉ ra thảm trạng yếu kém của thẩm phán. Thảm trạng này đã dẫn đến
trùng điệp những án oan sai.
Cựu Chánh án TANDTC (khóa 2002-2007)
Nguyễn Văn Hiện đã tiết lộ một sự thật kinh hoàng khi đăng đàn giải trình trước
Quốc Hội, rằng phải “vơ vét” bổ nhiệm các thẩm phán chưa đạt yêu cầu. Trả lời
của ông Nguyễn Văn Hiện đã làm rất nhiều ĐB QH bức xúc. “ĐB Lê Văn Cuông (Thanh
Hóa) chỉ trích việc “vơ vét” những người không đủ tiêu chuẩn vào đội ngũ thẩm
phán như vậy sẽ dẫn đến xét xử lọt tội phạm và oan sai”. “ĐB Nguyễn Thị Hồng
Xinh, có nhiều thẩm phán “cố tình đạp lên pháp luật mà đi”. Bà Xinh hỏi: do
năng lực thẩm phán kém hay do “chạy án”? (https://tuoitre.vn/vo-vet-de-co-du-tham-phan-174877.htm).
Sự yếu kém của thẩm phán được chính
đương kim chánh án TANDTC Nguyễn Hòa Bình lo lắng: “ngành tòa án sẽ mở lớp tập
huấn để viết bản án theo mẫu định sẵn. Lớp học này sẽ mời các giáo viên dạy văn
đến dạy về chính tả, ngữ pháp và từng dấu chấm, dấu phẩy…”
(https://www.tienphong.vn/…/nganh-toa-an-se-moi-giao-vien-de…).
Đến thời điểm hiện tại, sự yếu kém
của thẩm phán không chỉ nằm trong các thẩm phán được “vơ vét” mà ngay chính tại
các thẩm phán đầy mình học vị ở TANDTC. Minh chứng cụ thể là quyết định của 17
thẩm phán Hội đồng thẩm phán TANDTC trong phiên Giám đốc thẩm hôm 06-08/5/2020
về vụ án Hồ Duy Hải - đã gây ra sự phản ứng mạnh mẽ của các chuyên gia trong
ngành tư pháp. Không ai có thể hiểu được, một hội đồng cả những 17 thẩm phán ở
chính tại TANDTC lại có những sai phạm sơ đẳng về pháp luật - thể hiện một
trình độ chuyên môn non yếu đến sợ hãi. Đến mức GS.TS Luật học Thái Vĩnh Thắng
(nguyên Chủ nhiệm khoa Pháp Luật Hành chính - Nhà nước, Đại học Luật Hà Nội)
phải thốt lên “ Nếu không hủy bản án giám đốc thẩm Hồ Duy Hải, uy tín của nền
tư pháp Việt Nam sẽ sụp đổ”. GS Thái Vĩnh Thắng đã nêu ra 5 sai phạm:
1/. Vi phạm nguyên tắc hồi tỵ, theo
đó chánh án Nguyễn Hòa Bình không thể tham gia xét xử phiên tòa này vì ông đã
từng tham gia vụ án này với tư cách Viện trưởng VKSND tối cao ký quyết định
không kháng nghị bản án phúc thẩm. 2/. Vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội, khi
không có nhân chứng hoặc vật chứng chứng minh Hồ Duy Hải phạm tội thì phải coi
như Hồ Duy Hải vô tội. 3/. Kết luận sai về sự vi phạm luật tố tụng của cơ quan
điều tra mà lại không ảnh hưởng đến bản chất của vụ án. 4/. Vi phạm nguyên tắc
đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo và không đảm bảo nguyên tắc tranh
tụng tại phiên tòa. 5/. Không tạo điều kiện tốt nhất để đảm bảo nguyên tắc độc
lập của thẩm phán. (http://pldvietnam.org.vn/2020/05/18/neu-khong-huy-ban-an-giam-doc-tham-vu-ho-duy-hai-uy-tin-cua-nen-tu-phap-viet-nam-se-sup-do/).
Trình độ yếu kém của HĐTP TANDTC đã
đưa họ đến một sai lầm mang tính nguyên tắc trong xử Giám đốc thẩm vụ án Hồ Duy
Hải. Đó là không hiểu trọn vẹn chức năng của xử Giám đốc thẩm. Chính điều này
đã đưa đến kết luận hồ đồ trong biểu quyết số 2 “Bản án phúc thẩm và bản án sơ
thẩm kết án Hồ Duy Hải có đúng người, đúng tội, đúng mức án hay không”? - với
kết quả 17/17 thành viên biểu quyết “Đúng người, đúng tội, đúng mức án”.
Giám đốc thẩm, điều cốt lõi không
phải “ngồi để xử lại” y hệt như sơ thẩm và phúc thẩm, rồi kết luận “Đúng người,
đúng tội, đúng mức án”. Chức năng quan trọng số 1 của Giám đốc thẩm là lấy hai
bộ luật là Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) và Bộ luật hình sự (BLHS) làm “hai
kính soi yêu” để phát hiện ra án sơ thẩm và án phúc thẩm có hoàn toàn tuân thủ
2 bộ luật này hay không? Có vi phạm gì không? Có bỏ sót gì không? Có mâu thuẫn
gì không?... Khi án sơ thẩm và phúc thẩm tuân thủ tuyệt đối BLTTHS và áp dụng
đúng BLHS trong xét xử, thì tự động kết quả xử án sẽ phù hợp. Kết quả xử án là
sản phẩm của 2 bộ luật này. Giống như trong sản xuất, nếu là sản phẩm đi qua
các công đoạn, không vi phạm điều gì, thì sẽ không phải là phế phẩm. Chức năng
chính của Giám đốc thẩm là lấy 2 bộ luật để soi xét rồi tuyên bố không hủy, hay
hủy để điều tra lại, xử lại – chứ không phải tuyên “Đúng người, đúng tội, đúng
mức án”.
Nay HĐTP TANDTC ngồi trong phòng
lạnh ở Hà Nội, không có bị cáo, không có nhân chứng, không khảo sát thực địa…,
chỉ dựa trên hồ sơ có nhiều sai sót của các điều tra viên yếu kém lập nên mà
tuyên bố “xanh rờn” “Đúng người, đúng tội, đúng mức án” thì thật là liều lĩnh.
Bây giờ mới phát hiện ra không có nghi can Nguyễn Văn Nghị mà lại có nghi can
Nguyễn Hữu Nghị thì HĐTP TANDTC lấy gì để biện minh? Tiếp đến sẽ bộc lộ nhiều
mâu thuẫn khác nữa thì HĐTP TANDTC có khăng khăng khẳng định “Đúng người, đúng
tội, đúng mức án” nữa không?
Xử Giám đốc thẩm là lấy tổng thể để
soi xét cụ thể. Nhưng HĐTP TANDTC lại lặp lại chức năng của tòa sơ thẩm và phúc
thẩm là “từ xét cụ thể đi đến kết luận tổng thể”. Đó là sai phạm mang tính
nguyên tắc của HĐTP TANDTC. Vì là sai phạm mang tính nguyên tắc, nên HĐTP
TANDTC không bao giờ đối phó được những tình huống mới xuất hiện như công an
Long An trả lời ' không có nghi can Nguyễn Văn Nghị'.
Về biểu quyết số 3 của HĐTP TANDTC
khẳng định “Quyết định kháng nghị số 15/QĐ-VKSNDTC-V7 của VKSNDTC không đúng
pháp luật” đã bị phản đối dữ dội với các phản bác thuyết phục. Không nhắc lại ở
đây, mà chỉ muốn lưu ý đến sai lầm sơ đẳng mà người không học luật cũng không
thể mắc phải. Đó là nếu quyết định kháng nghị của VKSNDTC không đúng pháp luật
thì HĐTP TANDTC phải bác ngay từ đầu mà không xem xét, hoặc chỉ xem xét tính
hợp pháp của kháng nghị. Chỉ cần tư duy logic thông thường cũng thấy được thế
“việt vị” của HĐTP TANDTC ở biểu quyết số 3.
Hội đồng thẩm phán TANDTC qua phiên
Giám đốc thẩm Hồ Duy Hải còn bộc lộ ra nhiều điểm yếu về chuyên môn nữa mà
không thể liệt kê hết ra ở đây. Điều sợ hãi đến cực độ cần phải nói - là ở Hội
đồng thẩm phán Tòa án cao nhất nước mà có chuyên môn yếu như vậy, thì làm sao
tìm đến được công lý trong các vụ án phức tạp? Và án oan vì thế mà cứ mãi nối
tiếp nhau xuất hiện không dứt nếu không có biện pháp ngăn ngừa.
5. THỂ THỨC BỔ NHIỆM CHÁNH ÁN TÒA ÁN
VÀ VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT CHƯA HỢP LÝ – LÀ NHÓM NGUYÊN NHÂN SỐ 5
Ở nước ta, các vị trí chánh án tòa
án và viện trưởng viện kiểm sát phải nằm trong cấp ủy tương ứng – từ quận huyện
cho tới tỉnh thành và trung ương. Điều này dẫn đến sự coi nhẹ chuyên môn.
Cụ thể, chánh án TANDTC và viện
trưởng VKSNDTC phải là ủy viên trung ương. Cho nên chỉ chọn chánh án TANDTC và
viện trưởng VKSNDTC trong số các ủy viên trung ương. Hệ quả là các thẩm phán
giỏi nhất đã không được bổ nhiệm làm chánh án TANDTC và viện trưởng VKSNDTC.
Điều này cũng đã xảy ra ở cấp tỉnh thành và quận huyện.
Tư pháp là ngành khoa học phức tạp
và hệ trọng, vì liên quan đến số phận con người và là nhân tố tham gia quyết
định sự phát triển của toàn quốc gia. Vì thế cần những người giỏi dẫn đường.
Trong ngành tư pháp, yếu tố chuyên môn là quyết định áp đảo. Bởi vậy, trong
CCTP cần phải cải cách cả phương thức bổ nhiệm các chánh án và các viện trưởng
viện kiểm sát ở mọi cấp độ. Cần phải tìm ra lời giải hợp lý cho vấn đề này.
6. NÂNG CAO TÍNH ĐỘC LẬP CỦA TÒA ÁN
Tòa án, viện kiểm sát, luật sư - là
bộ 3 thành tố bảo vệ công lý trong ngành tư pháp. Tuy nhiên, tòa án và viện
kiểm sát lại có chung một gốc rễ lãnh đạo là cấp ủy - nên cuối cùng hai thành
tố này không phải lúc nào cũng độc lập hoàn toàn. Làm thế nào để cả 3 thành tố
- tòa án, viện kiểm sát, luật sư – đều độc lập hoàn toàn thì khách quan trong
xử án mới được đảm bảo. Đây là câu hỏi không dễ có được lời giải tốt cho CCTP.
Trong khuôn khổ bài viết này, chưa đề xuất giải pháp cho vấn đề này ở đây.
7. NHỮNG KHIẾM KHUYẾT KHÁC
Dẫn đến án oan còn do những khiếm
khuyết khác nữa của ngành tư pháp. Trong số những điều cần hoàn thiện - có việc
hoàn thiện pháp luật hình sự, dân sự, tố tụng tư pháp. Trong số các vấn đề cần
cải cách - có việc cải cách tổ chức các cơ quan tư pháp và các thiết chế bổ trợ
tư pháp… Còn những vấn khác nữa mà chỉ các chuyên gia trong ngành tư pháp mới
đưa ra được lời giải - chẳng hạn là sự cần thiết phải có Tòa án Hiến pháp.
III. CẤP BÁCH SỐ 1 CỦA CẢI CÁCH TƯ
PHÁP LÀ VẤN ĐỀ THẨM PHÁN
Cải cách tư pháp là một tiến trình
gian truân. Nhưng dù gian truân bao nhiêu thì cũng phải cải cách tư pháp để
không trói buộc bước phát triển của đất nước. Phải cải cách tư pháp để người
dân được rộng không gian phát huy năng lực mà đóng góp cho sự phát triển của
đất nước. Còn nữa, phải cải cách tư pháp để giảm thiểu sự oan trái làm tiêu tán
sức mạnh và lòng tin của nhân dân.
Trong nhiều mặt của cải cách tư
pháp, có vấn đề cốt lõi nổi cộm đã nêu ở trên phải cấp thiết xử lý. Rằng các
thẩm phán chịu trách nhiệm áp đảo trong các án oan sai. Đó là vì chuyên môn của
thẩm phán yếu kém. Đó là do thẩm phán không chống cự được sự cám dỗ của tiền
bạc. Đó là bởi thẩm phán lùi bước trước quyền lực. Không phải vơ đũa cả nắm,
nhưng rất nhiều thẩm phán mắc các lỗi vừa nêu ra. Đó cũng là một phần hậu quả
của chiến dịch “vơ vét” thẩm phán.
Nếu các thẩm phán giỏi về chuyên
môn, tiền bạc không mua chuộc được, lại không sợ hãi quyền lực – thì đã không
có nhiều án oan sai như trong thời gian vừa qua. Cho nên, thẩm phán là “pháo
đài” đầu tiên phải “công phá” trong cải cách tư pháp ở Việt Nam.
Biết rằng, phải cải cách cơ chế là
chìa khóa. Biết rằng, nạn tham nhũng đã thành ung thư trong xã hội và đang tạo
ra lớp lớp những đợt “sóng thần” dội vào ngành tư pháp. Nhưng trí tuệ và tâm
sáng của các quan tòa phải như hải đăng giữa muôn trùng bão tố. Thì ngõ hầu mới
giảm bớt được án oan sai.
Thẩm phán phải là bậc trí nhân. Thẩm
phán phải là kẻ sĩ. Thời nào có được thẩm phán như vậy thì quốc gia tất cường
thịnh.
Nguồn: blvn.net
Nhận xét