5795. Tại sao Liên Xô tan rã?
TẠI SAO LIÊN XÔ TAN RÃ?
![]() |
Duyệt binh của các chiến sĩ Hồng quân Liên Xô ở Quảng trường Đỏ. |
PNTB: Bài của PGS.TS Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện
nghiên cứu chiến lược, Bộ Công an.
Những nguyên nhân sụp đổ Liên Xô và Đông Âu, dưới nhãn quan của ông tuy có hạt nhân hợp lý, nhưng đó mới là những nguyên nhân trực tiếp. Có thể vì lý do nào đó, ông không đi đến cùng.
- Xét dưới góc độ triết học (phép biện chứng của Karl Marx) thì cần phân tích sâu hơn, tìm nguyên nhân sâu xa từ sai lầm về mô hình xã hội, thể chế chính trị, mô hình nhà nước… mà các Đảng Cộng sản đã thiết lập, không riêng có ở Liên Xô… dẫn đến những khuyết tật trong đảng khi đất nước yên bình, đời sống khá giả... như tham nhũng, mất dân chủ, độc đoán, chuyên quyền, coi thường quần chúng, để mất lòng dân...
Sau khi khẳng định Hệ thống XHCN hiện thực với Liên Xô làm trụ cột đã có đóng góp hết sức to
lớn vào sự phát triển của thế giới, trong những giai đoạn đầu, thiếu tướng Lê Văn Cương phân tích nguyên
nhân chủ yếu, theo quan điểm của ông về sự tan rã của Liên xô, tập trung vào sự tha
hóa của bản thân Đảng Cộng sản Liên Xô. Ông đã nêu những nguyên nhân đó như
sau:
Đã có
hàng trăm, thậm chí hàng nghìn bài viết, công trình chuyên khảo và sách lý giải
vấn đề này, trong đó các cuốn sách của những người trong cuộc đưa ra lời giải
có sức thuyết phục nhất. Nhân kỷ niệm 96 năm Cách mạng tháng Mười Nga
(7/11/1917 - 7/11/2013), bài viết này nhằm cung cấp một cái nhìn cận cảnh về sự
tan rã của Liên Xô.
Thật trớ
trêu, chính các Đảng Cộng sản cầm quyền, trước hết và chủ yếu là Đảng Cộng sản
Liên Xô, lại để mất quyền lãnh đạo, làm cho hệ thống XHCN hùng mạnh được họ dẫn
dắt hàng trăm triệu người xây dựng nên sụp đổ, tan rã. Cần lưu ý rằng Đảng Cộng
sản Liên Xô mất quyền lãnh đạo, Liên Xô tan rã mà không thông qua một cuộc
chiến tranh với chủ nghĩa đế quốc.
Thực
chất, Đảng Cộng sản Liên Xô, trực tiếp và chủ yếu là Bộ Chính trị, BCHTƯ đã tha
hóa, đã tự đánh mất mình và làm cho Liên Xô tan rã. Chính những người lãnh đạo
cao nhất, các ủy viên Bộ Chính trị Đảng CSLX đã thừa nhận điều đó. Tất nhiên,
hoạt động chống phá của các thế lực chống cộng quốc tế thông qua chiến lược
“diễn biến hòa bình” cũng là một nguyên nhân làm cho Liên Xô tan rã, nhưng chắc
chắn không phải là nguyên nhân chính, không phải là nguyên nhân chủ yếu.
1. ĐẢNG
CSLX ĐÃ THA HÓA, BIẾN CHẤT NHƯ THẾ NÀO?
Sơ bộ có
thể nêu ra một số biểu hiện lớn sau đây:
- Một là,
Đảng Cộng sản Liên Xô đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt
Đảng. Đi liền với nó là các bệnh tật: độc đoán, chuyên quyền, không chấp nhận
những ý kiến khác với mình; coi thường tập thể, coi thường cấp dưới, tự cho mọi
ý kiến của mình là chân lý buộc mọi người phải tuân theo, coi những ai có ý
kiến ngược lại là chống đối, thậm chí là thù địch, khi cần thiết bảo vệ “cái
uy” của mình, họ sẵn sàng đối xử với đồng chí, đồng đội như đối với kẻ thù. Kết
quả là trong sinh hoạt, đảng mất hết sinh khí, mất hết tính chiến đấu. Sinh
hoạt đảng trở nên tẻ nhạt, khô cứng, độc thoại một chiều. Trong điều kiện đó
nhiều đảng viên trung kiên, trong sáng không được trọng dụng, cố nín nhịn để
tồn tại, những kẻ cơ hội, nịnh bợ có điều kiện được thăng tiến.
- Hai là,
Bộ Chính trị, BCHTƯ Đảng Cộng sản Liên Xô đã quan liêu xa rời thực tiễn, để mất
quan hệ máu thịt giữa Đảng CSLX với nhân dân Liên Xô. Tệ quan liêu làm cho
những người lãnh đạo các cấp của Đảng CSLX xa rời thực tế, không có hiểu biết
đúng đắn hiện trạng xã hội mà mình đang lãnh đạo, quản lý. Họ thờ ơ trước những
nguyện vọng chính đáng của quần chúng, thậm chí không có rung động, phản ứng
trước những nỗi thống khổ, oan ức của một bộ phận quần chúng nhân dân, trong đó
có cả một bộ phận đảng viên, cán bộ cấp dưới.
- Ba là,
những suy thoái về đạo đức, lối sống của một số lãnh đạo cấp cao giữ vai trò
chủ chốt với những biểu hiện nổi bật: Sống ích kỷ, đặt lợi ích của bản thân,
gia đình và người thân lên trên lợi ích của Đảng, của nhân dân; cục bộ địa
phương, kéo bè kéo cánh đưa những người thân tín với mình, kể cả những người
yếu về năng lực, kém về đạo đức, lối sống vào những vị trí lãnh đạo để làm vây
cánh, che chắn bảo vệ mình; tham ô, sống xa hoa, nói một đằng làm một nẻo, cá
biệt còn tha hoá, suy đồi về đạo đức, lối sống.
Trên đây
là những biểu hiện nổi bật chủ yếu sự thoái hoá của một bộ phận cán bộ, đảng
viên của Đảng Cộng sản Liên Xô, nhất là các cán bộ chủ chốt ở cấp cao.
Chỉ khi
nào sự thoái hóa, biến chất diễn ra tại trung tâm quyền lực (chóp bu) của Đảng
thì mới trở thành nguy cơ đối với Đảng, đó là đêm trước của sự tan rã, sụp đổ.
Đảng Cộng sản Liên Xô và các “phiên bản” Đông Âu của nó thuộc trường hợp
này.
Thông thường
các biểu hiện trên không tồn tại biệt lập, mà luôn song hành, có quan hệ với
nhau, tác động với nhau, có lúc cái này làm tiền đề, điều kiện cho cái kia tồn
tại và phát triển. Những biểu hiện thoái
hoá nói trên, không bỗng nhiên xuất hiện, mà có một quá trình từ chớm nở như
một ung nhọt nhỏ rồi phát triển qua nhiều giai đoạn. Những bệnh tật này
lặng lẽ tích dồn liên tục trong nhiều tháng, nhiều năm làm Đảng mất sức chiến
đấu, thiếu nhạy bén, không đưa ra được đường lối, quyết sách đúng đắn, khả thi.
Trong Đảng CSLX đã thực sự có phân hoá: Một bộ phận cán bộ, đảng viên giàu lên
nhanh chóng do đặc quyền, đặc lợi, đại bộ phận sống khó khăn; nhiều đảng viên
nói một đằng làm một nẻo, trong cuộc họp nói khác ngoài cuộc họp, suy nghĩ một
đằng phát biểu một nẻo. Tính chiến đấu trong sinh hoạt đảng dần dần nguội lạnh,
nhiều đảng viên trở nên thờ ơ trước những vấn đề chính trị có quan hệ đến vận
mệnh của Đảng CSLX.
Theo Ph.
M. Rudinxki, có thể chia 20 triệu đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô làm 4 loại:
1. Những
đảng viên chân chính thường chiếm tỷ lệ nhỏ;
2. Những
người thực hiện, chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng như cái máy (chiếm
khoảng hơn 96 %);
3. Những
kẻ cơ hội, xu thời, nịnh bợ (phần lớn trong bộ máy công quyền);
4. Những
người im lặng (phần lớn họ là những người có hiểu biết nhưng sợ bị trù dập nên
họ giữ im lặng, không dám phát biểu).
N. I.
Rưscôp, nguyên ủy viên Bộ Chính trị ĐCS Liên Xô, Thủ tướng Liên Xô (1985 -
1990) cho rằng: Tồn tại hai Đảng trong Đảng Cộng sản Liên Xô: Một đảng của hàng
chục triệu đảng viên bình thường và một đảng của những quan chức chóp bu trong hệ
thống đảng, nhà nước Liên Xô. Những đảng viên nắm quyền lực ở cấp cao ngày càng
xa rời, cách biệt với hàng chục triệu đảng viên bình thường. Số đảng viên này,
về thực chất, không đại diện và bảo vệ lợi ích của giai cấp, của dân tộc, mà
chỉ tìm mọi cách bám giữ quyền lực vì lợi ích cá nhân của họ.
Do những
bệnh tật kể trên, đại bộ phận quần chúng nhân dân giảm lòng tin đối với sự lãnh
đạo của Đảng CSLX, thờ ơ đối với những vấn đề chính trị trọng đại của đất nước,
thậm chí có một số trông chờ, mong muốn có sự thay đổi. Chính đó là trạng thái
trong Đảng Cộng sản Liên Xô và trong xã hội Liên Xô vào cuối những năm 80, đầu
những năm 90 của thế kỷ XX, đêm trước của sự sụp đổ, tan rã (1989 - 1991).
2. THỬ
BÀN VỀ CÁC NGUYÊN NHÂN.
Về hoạt
động chống phá của Mỹ và các thế lực chống cộng quốc tế thì rõ ràng, có đầy đủ
thông tin, tư liệu để khẳng định. Tuyệt đối không được mơ hồ, mất cảnh giác.
Mặt trái
của cơ chế thị trường cũng là một nguyên nhân. Nhưng nếu quá nhấn mạnh, cường
điệu mặt trái của cơ chế thị trường thì khó lòng giải thích được những thoái
hoá của Đảng Cộng sản Liên Xô, Đảng Cộng sản Trung Quốc trong thời kỳ Mao Trạch
Đông, Xtalin và Prêz nép lãnh đạo, vì thời Mao, thời Xtalin, thời Prêz nép chưa
có kinh tế thị trường.
Nghiên
cứu kỹ quá trình thoái hoá của Đảng Cộng sản Liên Xô, kể cả những đảng cầm
quyền rồi mất quyền và những đảng hiện nay còn cầm quyền, chúng tôi xin nêu ra
hai vấn đề để trao đổi, thảo luận.
- Một là,
về mặt tổ chức, trong suốt quá trình tồn tại, phát triển của mình, Đảng Cộng
sản Liên Xô chưa xây dựng được cơ chế hữu hiệu để đảm bảo dân chủ thực sự trong
sinh hoạt Đảng. Đảng CSLX đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong suốt
quá trình hoạt động. Theo chúng tôi, đây là điểm khởi thuỷ, nguồn gốc của mọi
biểu hiện khác về sự thoái hoá của Đảng CSLX (quan liêu, tha hoá về tư tưởng
chính trị, thoái hoá về đạo đức, lối sống, chia rẽ mất đoàn kết…). Ở đâu và khi
nào trong sinh hoạt đảng thể hiện sục sôi dân chủ, thì đảng có sức sống mãnh
liệt. Đảng Cộng sản Bôn - sê - vích Nga dưới thời lãnh đạo của Lênin là một ví
dụ điển hình.
Xét đến
cùng, do thiếu dân chủ trong sinh hoạt Đảng nên cơ quan lãnh đạo của Đảng CSLX
thiếu thông tin nhiều mặt về một vấn đề, đặc biệt là những vấn đề hệ trọng quan
hệ đến sinh tồn của Đảng. Thiếu dân chủ cho nên trong sinh hoạt đảng thường là
ĐỘC THOẠI một chiều từ những người lãnh đạo cao nhất, thiếu hẳn thông tin phản
hồi từ dưới lên. Thiếu dân chủ, nên những đảng viên ưu tú, nhạy bén, sắc sảo,
thông minh không có chỗ để thể hiện ý tưởng của mình. Trong một tổ chức như
vậy, bộ tham mưu cao nhất không có đủ thông tin nhiều chiều, toàn diện, do đó
những quyết định về đường lối, sách lược thường không phù hợp với thực tiễn,
thậm chí trái ngược với quy luật, ngược với hiện thực khách quan. Phải chăng,
đó là một trong những nguyên nhân căn bản dẫn đến tình trạng nghị quyết, chỉ
thị rất nhiều nhưng việc đưa vào cuộc sống không được bao nhiêu. Theo ngôn ngữ
y học, thuốc rất nhiều nhưng không có loại đặc trị, nên bệnh tình sẽ ngày càng
trầm trọng.
Dưới góc
độ lý thuyết hệ thống, có thể xem một tổ chức đảng như một hệ thống. Để đảm bảo
cho hệ thống đó tồn tại bền vững, nhất thiết phải có trao đổi thông tin. Nếu
thiếu trao đổi thông tin (theo 2 chiều thuận - nghịch, từ trong ra ngoài, từ
ngoài vào trong) thì sớm muộn hệ thống đó sẽ bị đổ vỡ để chuyển sang một trạng
thái khác. Thiếu dân chủ trong sinh hoạt đảng, tức là thiếu trao đổi thông tin
(trên xuống, dưới lên, trong đảng ra ngoài xã hội và ngược lại). Nếu trạng thái
này kéo dài thì sẽ sinh ra thoái hóa của hệ thống đảng dưới nhiều biểu hiện như
đã trình bày ở trên. Nếu không khắc phục được, để kéo dài, thì sớm muộn sự
thoái hóa của một số đảng viên ở vị trí chủ chốt sẽ dẫn đến sự thoái hóa của
đảng cầm quyền.
Hãy trở
lại với Đảng Cộng sản Liên Xô để chúng ta hiểu rõ vấn đề dân chủ trong đảng.
Nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng được ghi rõ trong Điều lệ,
Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Bôn - sê - vích Nga từ năm 1903. Điều lệ Đảng Cộng
sản Liên Xô, qua nhiều lần thay đổi, vẫn là một văn bản quy định rất chặt chẽ,
rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm của đảng viên. Tại sao không ngăn chặn được
những biến thái lệch lạc của Xta - lin, Prêz-nhép, không ngăn chặn được hành vi
lạm quyền, lộng quyền và phản bội của Góoc - ba - chốp? Cớ sao hàng chục triệu
đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô không có phản ứng gì khi Góoc - ba - chốp tuyên
bố giải tán Đảng? Không thể nói cách khác, thiếu dân chủ trong sinh hoạt Đảng
và không có cơ chế giám sát quyền lực hữu hiệu, đặc biệt là thiếu hẳn cơ chế
giám sát hoạt động của Tổng bí thư, của Bộ Chính trị là nguồn gốc sinh ra tệ
lạm quyền, lộng quyền của những người lãnh đạo Đảng CSLX, làm cho đảng có một
xác thịt to lớn (hàng chục triệu đảng viên), nhưng không có hồn, không có sức
sống.
Thực tế
xác nhận: Đảng CSLX trước đây không có lực lượng nào và không có cơ chế nào
thực hiện giám sát và phản biện hoạt động của Tổng Bí thư, của Bộ Chính trị.
Một nhóm nhỏ này, có khi chỉ dăm ba người nắm quyền lực tối cao, tự tung tự
tác, ai có ý kiến khác sẽ bị họ chụp cho cái mũ là “chống đối”, “là phản động”,
“là chống Đảng”, thậm chí là “phản bội Tổ quốc”…
Cũng do
thiếu dân chủ trong sinh hoạt Đảng mà các thành viên trong tổ chức có quan hệ
với nhau rất lỏng lẻo, đảng mất hết sức sống, tính chiến đấu chỉ còn lại trong
nghị quyết.
Do thiếu
dân chủ trong sinh hoạt Đảng, mà một thời gian dài trước khi sụp đổ, tan rã,
trong Đảng Cộng sản Liên Xô cũng như trong các Đảng Cộng sản ở các nước XHCN ở
Đông Âu đã lặng lẽ diễn ra một quá trình phân hóa trong đảng, cả trong sinh
hoạt Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị. Các đảng viên nghĩ một đằng phát
biểu một đằng, không dám thể hiện chính kiến của mình ngay cả đối với vấn đề
quan hệ đến sinh tồn của Đảng. Trong cuộc họp người ta nói một đằng, mà phần
lớn không thật lòng, ngoài cuộc họp người ta nói riêng với nhau lại khác, cấp
trên áp đặt, cấp dưới điều chỉnh hành vi cho phù hợp với cấp trên, mọi thông
tin chính thức từ trên xuống và đặc biệt là từ dưới lên đều thiếu chân thật.
Chưa đến một tháng trước khi tan rã, mất quyền lãnh đạo, những người lãnh đạo
của một Đảng Cộng sản cầm quyền vẫn khẳng định sức chiến đấu của đảng mình, vẫn
tuyên bố tuyệt đại bộ phận nhân dân còn ơn đảng, theo đảng, tin đảng và tuyệt
đại đa số đảng viên là tin cậy, trung thành...!
Cũng do
thiếu dân chủ trong sinh hoạt Đảng mà Đảng CSLX đã mắc sai lầm trong việc đánh
giá cán bộ, đào tạo cán bộ, tuyển chọn và bố trí, sử dụng cán bộ vào vị trí chủ
chốt trong Đảng, trong Nhà nước. Thiếu dân chủ là bà đỡ của thói nịnh bợ, luồn
lọt, là điều kiện tốt cho chủ nghĩa thực dụng, cơ hội vị kỷ phát sinh tồn tại
trong đảng, nhất là ở các cơ quan lãnh đạo cấp cao. Ai cũng biết cán bộ quyết
định tất cả, và thực tiễn cũng xác nhận điều đó. Nhưng Đảng CSLX phạm sai lầm
trong công tác sử dụng, bố trí cán bộ.
- Hai là,
sự thoái hóa của Đảng CSLX là do các đảng viên, trước hết và chủ yếu là các
đảng viên giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt ở cấp cao, chưa đủ độ chín muồi về mặt
chính trị, chưa thực sự giác ngộ về giai cấp, về lý tưởng cộng sản. Khi kết nạp
mọi đảng viên đều tuyên thệ về sự giác ngộ lý tưởng cộng sản của mình, hứa hẹn
một lòng một dạ phấn đấu vì lợi ích của giai cấp, của những người lao động,
nguyện trung thành với lý tưởng cộng sản... Nhưng khi đã vào đảng rồi thì họ
thiếu rèn luyện và trong hoạt động thực tiễn, họ dần dần xa rời những lời tuyên
thệ, hứa hẹn của mình. Đó là quá trình tha hóa của đảng viên, và kéo theo sự
tha hóa của đảng. Tất nhiên, không phải mọi đảng viên đều diễn ra quá trình tha
hóa đó.
Tất
nhiên, còn nhiều vấn đề thuộc về nguyên nhân và điều kiện làm cho Đảng CSLX
thoái hóa, Liên Xô tan rã. Ở đây chúng tôi không có điều kiện để trình bày tất
cả, chỉ nêu ra những nhân tố quan trọng nhất, cơ bản nhất. Có thể xem nó là
nguồn gốc của mọi thoái hóa của Đảng cầm quyền nói chung, của Đảng CSLX nói
riêng.
*
* *
Năm 2013,
nhân dân Nga nói riêng, nhân dân 15 nước Cộng hòa thuộc Liên Xô (cũ) cũng như
nhân dân Việt Nam và nhân loại tiến bộ nói chung, kỷ niệm 96 năm Cách mạng
tháng Mười Nga vĩ đại (7/11/1917 - 7/11/2013). Chủ nghĩa xã hội đã tồn tại 74
năm tại nước Nga (1917 - 1991) và Liên Xô tan rã đã 22 năm (1991 - 2013). Người
Nga nói riêng, nhân loại tiến bộ nói chung, còn phải tiếp tục nghiên cứu lý
giải một cách cặn kẽ và có sức thuyết phục về những vấn đề liên quan đến sự tan
rã của Liên Xô.
Sau chừng
ấy thời gian, cho phép chúng ta khái quát ba vấn đề lớn sau:
- Một là,
từ Cách mạng tháng Mười Nga đến khi Liên Xô tan rã (1917 - 1991) có thể phân kỳ
như sau: 1. Thế hệ cách mạng đầu tiên do Lênin lãnh đạo đã đưa nước Nga Xô viết
non trẻ vượt qua thử thách “ngàn cân treo sợi tóc” 1917 - 1920 để tồn tại và
phát triển; 2. Thế hệ lãnh đạo thứ hai do Stalin lãnh đạo đã tiêu diệt Chủ
nghĩa phát xít Đức - Nhật - Ý và đưa Liên Xô trở thành cường quốc thế giới; 3;
Thế hệ lãnh đạo thứ ba ở Liên Xô từ Khơrusốp đến Bregiơnép là những người đã
tham gia Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại (1941 - 1945) và họ đã đưa Liên Xô trở
thành cường quốc hàng đầu thế giới; 4. Thế hệ lãnh đạo thứ tư với hạt nhân là
Góocbachop, là những người sinh ra trong thời kỳ chiến tranh vệ quốc vĩ đại và
chưa nếm trải thử thách của chiến tranh.
Chính thế
hệ lãnh đạo thứ tư đã làm cho Đảng CSLX mất quyền lãnh đạo, làm cho Liên Xô tan
rã.
- Hai là,
thế hệ lãnh đạo thứ tư ở Liên Xô với Góocbachop là hạt nhân đã nắm trong tay
mọi quyền lực và mọi nguồn lực của đất nước, nhưng họ không thuận theo lòng
dân, không được dân ủng hộ nên đánh mất toàn bộ cơ đồ sự nghiệp và bị lịch sử
vứt vào sọt rác.
Hóa ra, việc thâu tóm được mọi quyền lực và mọi
nguồn lực quốc gia không khó bằng nắm được lòng dân. Những ai không nắm được
lòng dân thì họ đã thất bại ngay khi đang nắm quyền lực.
- Ba là,
các đảng cộng sản đang cầm quyền và chưa cầm quyền cần rút ra bài học từ thất
bại của Đảng CSLX, từ sự tan rã của Liên Xô để vượt qua chính mình vì hạnh phúc
của nhân dân và sự hưng thịnh của đất nước.
Sai lầm
và khuyết điểm rất khó tránh, nhưng không thực sự nguy hiểm. Điều nguy hiểm
nhất là không dám thừa nhận sai lầm,
khuyết điểm, đặc biệt là không có quyết tâm chính trị để tránh sai lầm, khắc
phục khuyết điểm.
Theo Lê
Văn Cương (Nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu chiến lược Bộ Công an)
Theo Báo
Nghệ An
(Cóp lại từ Báo Dân trí)
Nhận xét