5583 - 50 năm nhìn lại số phận của Kim Ngọc và Đặng Kim Giang
50 năm nhìn lại số phận của Kim Ngọc và Đặng
Kim Giang
Tác giả: Kim Trần
Vũ Thư
Hiên giới thiệu: Bài viết của tác giả Kim Trần
gửi cho tôi, xin chia sẻ cùng các bạn. Những chỗ in đậm, in nghiêng, gạch dưới
đều bị mất vì tôi không biết cách làm trong Facebook, mong các bạn thông cảm.
LÊ DUẨN:
Tại Đại hội Đảng III (5-10 tháng 9.1960) Đảng Lao động Việt Nam,
Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn đọc Báo cáo chính trị, có đoạn:
“Công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa nhằm cải tạo những quan hệ
sản xuất không xã hội chủ nghĩa thành quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong
đó mấu chốt là cải biến chế độ sở hữu cá thể và chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa
về tư liệu sản xuất thành các hình thức khác nhau của chế độ sở hữu xã hội chủ
nghĩa, mở đường cho sức sản xuất phát triển” (Báo cáo Chính trị đọc tại Đại hội toàn quốc đảng Lao Động
Việt Nam lần thứ III tháng 5/9/1960. Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 21 trang 531.
NXB Chính trị Quốc gia. 2002).
Tháng 12 năm 1960, Chính phủ kiểm điểm kế hoạch 3 năm cải tạo và
phát triển kinh tế, văn hoá (1958-1960), đánh giá:
“Công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công
nghiệp và công thương nghiệp tư bản tư doanh đã thu được thắng lợi có tính chất
quyết định”.
Kinh tế quốc doanh bắt đầu trở thành lực lượng chủ đạo của nền
kinh tế quốc dân. Số lượng nông trường quốc doanh từ 16 năm 1957 đã tăng lên 59
năm 1960. Công nghiệp quốc doanh năm 1960 chiếm 89, 9% giá trị sản lượng công
nghiệp. Nhờ quốc hữu hoá các nhà máy, xí nghiệp tư nhân nên công nghiệp quốc
doanh tăng trưởng tới 49, 6%/năm. Vận tải quốc doanh chiếm 79, 7% tổng khối
lượng vận tải hàng hoá. Thương nghiệp quốc doanh chiếm 49, 5% lưu chuyển bán
lẻ, nếu kể cả thương nghiệp hợp tác xã và tư bản nhà nước thì chiếm 92% tổng
ngạch bán buôn.
Những con số tuyệt vời làm nức lòng người.
Nhưng…
Sau khi hoàn thành hợp tác hóa và phát triển nông trường quốc
doanh, sản xuất nông nghiệp Bắc Việt Nam lập tức tuột dốc.
Năm 1959, năng suất lúa từ 2,9 tấn/ha tụt xuống còn 1,8 tấn/ha
năm 1960. Tương tự, sản lượng lúa từ 5,2 triệu tấn tụt xuống còn 4,2 triệu tấn,
sản lượng bình quân đầu người giảm từ 335 kg thóc/người xuống còn 261kg/người
(Tổng cục Thống kê dẫn theo Võ trí Nhân Viện Nghiên cứu Châu Á 1990).
Cho đến năm 1960, khi hoàn thành hợp tác hóa trên phạm vi cả
nước thì năng suất lúa miền Bắc tụt xuống hàng thấp nhất các nước Đông Nam Á từ
mức kỷ lục cao nhất Đông Nam Á của Việt Nam năm 1958. Cân đối lương thực phải
dựa hẳn vào viện trợ nước ngoài.
NHỮNG KẺ PHÁ RÀO:
KIM NGỌC
Ông Kim Ngọc |
Tại Vĩnh Phúc (Vĩnh Yên và Phúc Yên hợp nhất) nhiều hợp tác xã
dù đã trải qua hai vòng cải tiến quản lý, nhưng càng mở rộng qui mô thì làm ăn
ngày càng sa sút. Vụ đông xuân năm 1965-1966, thời tiết xấu, sản l¬ượng lương
thực giảm 20%, nhiều hộ dân đói. Không chịu bó tay chờ chết, nông dân một xã
của huyện Lập Thạch tự chia ruộng hợp tác xã cho các hộ để họ chủ động tổ chức
sản xuất. Nạn đói lập tức được giải quyết.
Bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phúc Kim Ngọc khảo sát tình hình, thấy đó là
kinh nghiệm tốt, liền cho phép hợp tác xã Thôn Thượng xã Tuân Chính, huyện Vĩnh
Tư¬ờng làm thí điểm giao khoán sản xuất cho nhóm, cho lao động và cho hộ nông
dân trong vụ mùa 1966 và sau đó mở rộng ở 12 xã khác trong toàn tỉnh dưới hình
thức “điều tra thực tế”.
Ngày 10 tháng 9 năm 1966 tỉnh ủy Vĩnh Phúc thông qua nghị quyết
số 68 “Về một số vấn đề quản lý lao động nông nghiệp trong hợp tác xã nông
nghiệp hiện nay”, chính thức hoá chủ trương với nhiều cách khoán: a/ Khoán hộ
làm một khâu hoặc nhiều khâu sản xuất’; b/ Khoán hộ các khâu dài ngày hoặc suốt
vụ; c/ Khoán sản lượng cho hộ, cho nhóm; d/ Khoán trắng ruộng đất cho hộ.
Chỉ sau hai vụ năm 1967, đã có 75% số hợp tác xã trong tỉnh thực
hiện khoán hộ. Kết quả: sản lượng lương thực tăng thêm 4000 tấn, tình trạng
thiếu đói chấm dứt, có 4 huyện, 46 xã và 160 hợp tác xã (chiếm 70% số hợp tác
xã trong tỉnh) đạt năng suất lúa kỷ lục 5-6 tấn/ha. Tổng sản lượng quy ra thóc
năm 1967 toàn tỉnh Vĩnh Phú đạt 222. 000 tấn, tăng hơn năm 1966 là 4. 000 tấn.
Đàn lợn tập thể nhờ khoán chăn nuôi cũng tăng 20% đầu con so với năm 1966 và
tăng 38% so với năm 1965. Đây là những thành tích chưa từng có trong các hợp
tác xã ở Miền Bắc khi đó.
Phát biểu tại Hội nghị Trung ương 16 năm 1969, bí thư thứ nhất
Lê Duẩn nhận xét:
“Hiện bây giờ trên Vĩnh Phúc khoán cho hộ, thế là thế nào? Hợp
tác hoá ở Việt Nam không phải là máy móc, mà tổ chức lao động là chính. Đó là
nội dung hợp tác hoá của ta. Đất ruộng vẫn ở đây, chủ yếu là tổ chức lao động
lại để năng suất có thể lên 15-20%. Lênin nói như vậy, mà ta cũng nói như vậy,
nói từ đầu rằng, đó là nội dung hợp tác hoá. Bây giờ lại ra mấy chỗ giao khoán,
là sai đấy… Bóc lột là tư bản chứ không phải xã hội chủ nghĩa. Có những vấn đề
quan trọng như vậy đã nói rồi mà vẫn cứ sai. Cho nên nông nghiệp có khó khăn
như vậy”.
Ngày 17 tháng 2 năm 1955, Chính phủ ban hành Nghị định số 2 qui
định việc tổ chức các “cơ quan nông lâm trung ương và quốc doanh nông nghiệp ở
địa phương” với nội dung: “Các nông trường quản lý công nhân như trong nhà máy,
lương theo thang bậc cố định, làm việc theo tổ đội. Nông trường có qui mô đất
đai rộng, được trang bị nhiều máy móc, quản lý sản xuất như trong công nghiệp.
Số lượng nông trường quốc doanh tăng nhanh từ 16 năm 1957 lên 59 nông trường
năm 1960 nhưng về chất lượng thì rất yếu” (Báo cáo nghiên cứu hỗ trợ giám sát
tối cao của Quốc hội về tình hình thực hiện chính sách pháp luật về quản lý sử
dụng đất tại các nông lâm trường quốc doanh giai đoạn 2004 – 2015. Hỗ trợ giám
sát tối cao của Quốc hội năm 2015).
ĐẶNG KIM GIANG
Ông Đặng Kim Giang |
Không phải chỉ thủ tướng Phạm Văn Đồng mới nhận thấy “…Các nông
trường … kế hoạch không thực hiện được, sản lượng thấp, phẩm chất xấu, giá
thành cao, lãng phí nhiều, thua lỗ lớn” (Chỉ thị 366 của Thủ tướng Chính phủ
ngày 16 tháng 8 năm 1957).
Bí thư Đảng đoàn bộ Nông trường Quốc doanh Đặng Kim Giang đã
nhận thấy tình trạng đó từ lâu - đó là chủ trương duy ý chí muốn quản lý nông
nghiệp theo kiểu công nghiệp.
Việt Nam là nước đất chật người đông, bình quân mỗi hộ nông dân
chỉ có 0,5 - 0,6ha, nên quĩ đất của các nông lâm trường quốc doanh chiếm đến ¼
diện tích đất tự nhiên của cả nước là một sai lầm chết người. Khốn nỗi Đảng lại
muốn hình thành một hệ thống nông trường quốc doanh “đóng vai trò chủ đạo đối
với kinh tế tập thể, kinh tế gia đình” trong nông nghiệp giống như đã áp đặt
vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước nói chung cho toàn nền kinh tế.
Nhìn thấy đời sống cơ cực của công nhân các nông trường, ngay từ
năm 1963, tại nông trường mang tên “1-5”, với tư cách thứ trưởng Bộ Nông trường
Đặng Kim Giang mở “Hội nghị bàn về công tác đời sống” của Bộ Nông trường, chính
thức đề nghị cho phép áp dụng “hình thức tăng gia cá nhân, mỗi gia đình
tăng gia riêng tùy theo điều kiện, khả năng của mình”.
Theo đề nghị này, các nông trường cho phép nông trường viên được
dùng đất hoang hóa, đất đầu lô, đầu bờ tổ chức sản xuất với mục tiêu tăng gia,
tự cấp, tự túc để cải thiện đời sống, giao đất ở cho công nhân nông trường về
sinh hoạt theo gia đình, bỏ bếp ăn tập thể như trong nhà máy, mọi sản phẩm tăng
gia được “thuộc quyền sở hữu cá nhân, hoa lợi tăng gia thuộc quyền sử dụng cá
nhân”.
Ông cũng đề nghị khoán các vườn cây ăn quả, cây công nghiệp của
nông trường theo từng hàng cây, từng khu vườn cho cán bộ công nhân chăm sóc.
Tương tự, đối với chăn nuôi, ông đề nghị khoán từng đàn gia súc cho người lao
động, phần vượt khoán thuộc về người được giao hưởng, một phần dành cho quĩ
phúc lợi. Trong báo cáo chính thức, nội dung này được trình bày dưới dạng hiền
lành: “Một số vấn đề cần nghiên cứu”. Lần đầu tiên trong cơ chế kế hoạch ở Việt
Nam, khái niệm “khoán” được nói đến trong quản lý kinh tế.
Đề xuất của ông bị coi là hành động phá hoại. Không phải tới khi
khởi lên vụ “nhóm xét lại chống đảng" Đặng Kim Giang mới bị quy kết là một
tên “xét lại”.
Một tháng sau Hội nghị Đời sống ngành Nông trường (1963), Trưởng
ban Tổ chức Trung ương Lê Đức Thọ đã đến Bộ Nông trường quốc doanh kết tội Đặng
Kim Giang là “chủ trương xét lại” và hạ lệnh chấm dứt áp dụng.
Ngày 2 tháng 9 năm 1963, báo Nhân Dân đăng bài “Phát huy truyền
thống cách mạng” của Lê Đức Thọ. Bài báo kết tội “tư tưởng hữu khuynh” và “chủ
nghĩa xét lại” cho các đảng viên phản đối chiến dịch tập thể hóa trong nông
nghiệp.
Nguyễn Chí Thanh cũng viết bài “Nâng cao lập trường, tư tưởng vô
sản” trên tạp chí Học Tập tháng 10 năm 1963 tố cáo một số đảng viên có tư tưởng
“hữu khuynh”..
Trong báo cáo của Đảng đoàn Bộ Nông trường “Về hoạt động phá
hoại của Đặng Kim Giang trong ngành nông trường”, trong hoạt động đó ngoài kiến
nghị về cải tiến quản lý trong nông trường còn có cả những đề nghị về hợp tác
xã: “Việc xây dựng hợp tác hóa của ta, y cho là sớm quá, thiếu cơ sở vật chất
kỹ thuật, do đó mà đời sống của nông dân bị sút kém, hợp tác xã bị vỡ hàng
loạt, nông dân không phấn khởi sản xuất. Cuộc vận động quản lý hợp tác xã của
ta chưa phải là vấn đề căn bản mà căn bản là vấn đề cơ sở vật chất kỹ thuật
kia. ” (Đảng đoàn Bộ Nông trường. Báo cáo Về hoạt động phá hoại của Đặng Kim
Giang trong ngành nông trường. Hà Nội ngày 5/7/1968)
Đột phá khoán hộ của Kim Ngọc sau khi bị cấm 12 năm mới có Chỉ
thị 100 (xem: https://thuvienphapluat.vn/…/Chi-thi-100-CT-TW-1981-Cai-tie…), và đến tận 8 năm sau, năm 1988 thì Bộ Chính
trị mới ban hành Nghị quyết 10, chính thức giao trả đất đai, tư liệu sản xuất
cho hộ xã viên.
Mất 20 năm người ta mới thấy được hợp tác hóa nông nghiệp đã
thất bại hoàn toàn, Đảng lẳng lặng sửa chữa sai lầm tập thể hóa sản xuất nông
nghiệp. Đề xuất khoán trong nông trường quốc doanh của Đặng Kim Giang bị cấm áp
dụng năm 1963, thì mất 21 năm sau Ban Bí thư mới ra Chỉ thị 35 cho áp dụng việc
tăng gia và khoán sản xuất trong nông trường. Và chỉ đến khi các nông trường đã
phá sản hẳn thì năm 1995, vị chi là mất 32 năm Đảng mới chịu chấp nhận xóa bỏ
mô hình nông trường quốc doanh.
Kim Ngọc được chiêu tuyết, nhưng Đặng Kim Giang vẫn nằm trong
sách tội đồ của chính quyền. Ông bị bắt năm 1967, sau 6 giam năm cầm và 3 năm
lưu đầy biệt xứ, ông bị bắt lần thứ hai năm 1981 và khi bệnh tình nguy kịch mới
được trả về nhà để chết.
Những nỗ lực của ông ít người biết đến vì những người dính dáng
đến cuộc đấu tranh này đều bị vùi dập nặng nề. Không kể đến hàng chục, hàng
trăm người bị xử trí tàn bạo trong vụ án “Nhóm xét lại chống Đảng, chỉ riêng ở
bộ Nông trường Quốc doanh và trong các nông lâm trường đã có nhiều người bị
liên lụy đến việc thử nghiệm khoán trong nông trường. Ông viết trong thư gửi
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ V, năm 1981:
“Tôi bị bắt, được trên gợi ý, một số cán bộ Bộ Nông trường vốn
thèm khát địa vị, muốn tạo thêm vây cánh mượn gió bẻ măng lập ra danh sách
40-50 người “do Đặng Kim Giang tổ chức” gồm chánh, phó văn phòng, thanh tra,
cục trưởng, cục phó… Các đồng chí khốn khổ này bị treo giò, bị kiểm điểm, đưa
đi “hạ phóng” hàng năm trời. Sau khi bị vùi dập chán chê, mọi sự bịa đặt trở
nên quá vô lý thì tất cả anh em mới được phục hồi, lẳng lặng công nhận sự “lầm
lẫn” này. Nhưng những tháng năm tủi nhục, đã in đậm nét trong cuộc đời, uy tín,
vị trí xứng đáng của họ đã mất hẳn đi. Ai phải giải quyết vấn đề này?. ” (Đặng Kim Giang. Thư gửi Ban trù bị Đại
hội và các đoàn đại biểu tham dự Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ V, năm
1981)
Đúng 50 năm đã trôi qua kể từ ngày Đặng Kim Giang bị bắt giam
vào tháng 10 năm 1967, nó cũng trùng vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Kim
Ngọc.
Cả hai ông sớm hoạt động cách mạng giành độc lập rồi tham gia
kháng chiến chống Pháp. Điểm khác biệt ở những nhân vật can đảm dám "phá
rào" vì nhân dân, vì đất nước là lòng yêu nước trong sáng, luôn vì nhân
dân, khiến họ nhìn ra được những sai lầm có quyền bắt nhân dân cả nước phải
tuân theo.
10.2017
Kim Trần
(FB Vũ Thư Hiên)
Nhận xét