4926. “Cản trở sự phát triển là có lỗi với dân”
30 năm Đổi Mới nhìn từ ngành Bưu chính -
Viễn thông:
“Cản
trở sự phát triển là có lỗi với dân”

“Giờ nhìn lại nếu không cương quyết mở cửa cạnh tranh viễn thông
và Internet là khó sớm kí được BTA và WTO, là cản trở sự phát triển và hội nhập
của đất nước, là có lỗi với dân với nước” – Ông Mai Liêm Trực- Nguyên Thứ
trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông (nay là Bộ Thông tin truyền thông) nói.
LTS: Tiếp mạch bài 30 năm Đổi Mới
nhìn từ ngành Bưu chính - Viễn thông, Tuần Việt Nam giới thiệu bài trò chuyện
với ông Mai Liêm Trực – Nguyên Thứ trưởng Bộ Bưu chính - Viễn thông, Nguyên
Tổng Cục trưởng Tổng cục Bưu điện.
Khi nhìn lại 30 năm Đổi mới trong ngành công
nghệ thông tin và Viễn thông, là một trong những người đóng góp lớn trong lĩnh
vực này, ông có thể chia sẻ những thành tựu mà ngành đã đạt được?
Trong 15 năm đầu thời kì Đổi Mới, Tổng
cục Bưu điện có hai quyết định quan trọng nhất mang tính chiến lược, tạo đột
phá và bước ngoặt cho sự phát triển viễn thông và Internet tại Việt Nam.
Quyết định thứ nhất, ngay từ năm 1987 đi
thẳng vào số hoá mạng viễn thông Việt Nam với những công nghệ hiện đại, cung
cấp được những dịch vụ tiên tiến để đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc của đất
nước trong thời kì mở cửa và hội nhập với thế giới.
Đó là một quyết định dũng cảm và táo bạo
trong khi 95% thế giới đang dùng mạng viễn thông analog, đất nước ta và ngành
bưu điện còn nghèo sau những năm bao cấp, lại bị Mỹ cấm vận kinh tế và cấm cả
liên lạc viễn thông và công nghệ cao với Việt Nam.
![]() |
"Một số vị lãnh đạo cấp cao cũng lo ngại mở cửa cạnh tranh sẽ không quản lý được, ảnh hưởng đến an ninh quốc gia", ông Mai Liêm Trực. Ảnh: Lê Anh Dũng |
Người đứng mũi chịu sào là Tổng Cục trưởng Tổng Cục Bưu điện
Đặng Văn Thân đã cùng tập thể lãnh đạo và cán bộ toàn ngành nỗ lực phi thường,
có nhiều chính sách và giải pháp độc đáo như: lấy viễn thong quốc tế làm khâu
đột phá, mở rộng hợp tác quốc tế để tạo vốn, công nghệ và đào tạo cán bộ, chăm
lo đời sống cán bộ “Người bưu điện sống bằng nghề bưu điện”, đồng thời phối hợp
với các Tập đoàn viễn thông lớn của Mỹ (đặc biệt là AT&T) vận động Quốc hội
Mỹ bỏ cấm vận viễn thông với Việt Nam (bỏ được cấm vận viễn thông năm 1992, hai
năm trước khi bỏ cấm vận kinh tế năm 1994).
Đến năm 1995, Việt Nam đã số hoá và tự động hoá tất cả các tỉnh,
thành phố trong nước, kết nối với Mỹ và hàng chục nước trên thế giới, cung cấp
tất cả các dịch vụ viễn thông như điện thoại, fax, truyền số liệu, thông tin di
động, đáp ứng yêu cầu thông tin liên lạc của đất nước. Cũng trong năm này,
ngành bưu điện là ngành kinh tế kĩ thuật đầu tiên của Việt Nam đón nhận huân
chương sao vàng, được Đảng, nhà nước và nhân dân đánh giá là ngành đi đầu trong
sự nghiệp Đổi mới.
Quyết định chiến
lược thứ hai là xoá bỏ độc quyền, mở cửa cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông và
Internet. Bước đầu tiên là khi chuẩn bị đưa Internet vào Việt Nam (1997), trong
một ngày tôi kí 4 giấy phép làm ISP cho VNPT (VDC), FPT, NetNam và Saigon Net
sau đó là Viettel.
Bước tiếp theo là năm 2000, Tổng cục Bưu điện cấp phép cho
Viettel kinh doanh dịch vụ đường dài trong nước và quốc tế bằng công nghệ VOIP
(Điện thoại qua Internet) đồng thời sau đó cấp băng tần di động cho SPT và
Viettel để phát triển thông tin di động, tạo cạnh tranh thực sự trên thị trường
viễn thông Việt Nam.
Nhờ có cạnh tranh nên giá cước giảm mạnh, chất lượng dịch vụ
được nâng lên nên tốc độ phổ cập dịch vụ viễn thông và Internet tăng nhanh khắp
mọi miền đất nước, kể cả nông thôn, vùng sâu xa và biên giới hải đảo.
Áp lực mở cửa thị trường viễn thông
Việc mở cửa thị trường đối với các ngành độc quyền tư nhân như
viễn thông, điện lực, đường sắt, hàng không rất khó khăn với nhiều nước như
Singapore, Thái Lan…chứ không riêng gì Việt Nam, vậy ông có những áp lực và khó
khăn gì khi sớm mở cửa cho cạnh tranh thị trường viễn thông Việt Nam?
Đúng là cho mở cửa cạnh tranh đối với các lĩnh vực độc quyền tự
nhiên là rất khó khăn. Lĩnh vực viễn thông thường mất khoảng mười năm từ lúc có
chủ trương đến khi thị trường hoàn toàn cạnh tranh thực sự như ở Pháp, Đức,
Nhật, Malaisia, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan…
Ở Việt Nam thời điểm từ giữa những năm 1990 của thế kỉ trước,
ngành bưu chính viễn thông đang phát triển rất tốt với chiến lược số hoá và
tăng tốc, được lãnh đạo và nhân dân đánh giá cao nên chưa có áp lực mạnh của dư
luận yêu cầu mở cửa thị trường.
Tuy vậy đã có những than phiền nhất định về giá cước cao, nhất
là các nhà đầu tư nước ngoài, vì vậy Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã có chủ trương cho
Công ty điện tử và thiết bị thông tin Sigeles (sau này là Viettel) và Công ty
Bưu chính Viễn thông Sài Gòn (SPT) được tham gia kinh doanh dịch vụ Bưu chính
viễn thông.
Cả Viettel và SPT lúc đó đều lúng túng chưa biết tham gia thị
trường thế nào vì đầu tư cho ngành Bưu chính Viễn thông đòi hỏi nguồn vốn lớn
mà doanh thu của Viettel chỉ có vài tỷ đồng từ xây dựng cột Anten Viba cho bưu
điện, SPT thì có vài chục tỷ từ mua bán thiết bị điện tử viễn thông. Cơ quan
quản lý nhà nước là Tổng cục Bưu điện cũng chưa biết mở cửa thế nào, mở cái nào
trước cái nào sau như điện thoại nội hạt hay đường dài, mạng cố định hay di
động…Một số vị lãnh đạo cấp cao cũng lo ngại mở cửa cạnh tranh sẽ không quản lý
được, ảnh hưởng đến an ninh quốc gia.
Sau
thành công mở cửa cạnh tranh Internet năm 1997, Tổng cục Bưu điện quyết tâm xoá
bỏ độc quyền, mở cửa cạnh tranh các dịch vụ viễn thông. Tổng cục Bưu điện chọn
Viettel làm đội tiên phong xung kích đột phá vào thị trường bằng dịch vụ điện
thoại qua Internet VOIP vì đầu tư cho VOIP vốn ít mà có thể thu được lợi nhuận
nhanh. Giao cho Viettel cũng vì có đội ngũ cán bộ kĩ thuật giỏi đã từng xây
dựng và quản lý thông tin khuyên dùng của quân đội. Mặt khác, giao cho Viettel
cũng giúp cho các vị lãnh đạo cấp cao yên tâm hơn về vấn đề an ninh quốc
gia.
Mặc
dù vậy vẫn có một vị lãnh đạo cấp rất cao thấy Tổng cục Bưu điện mở cửa cạnh
tranh viễn thông và Internet quá lo lắng nên xuống làm việc với Tổng cục Bưu
điện. Khi nghe vị Phó Tổng cục trưởng báo cáo về chiến lược phát triển ngành,
đến đoạn mở cửa thị trường cạnh tranh trong nước rồi đến cạnh tranh quốc tế, vị
này đã găy gắt cắt ngang và nói: Thế này thì mất an ninh quốc gia, mất chủ
nghĩa xã hội. Tôi bình tĩnh nhưng cương quyết đáp lại là năm 1945, ta chưa có
năm nghìn Đảng viên trong điều kiện thù trong giặc ngoài mà cách mạng vẫn thành
công, bây giờ có hai triệu Đảng viên (thời điểm đó) thì sao phải sợ, phải tin
vào dân mình mà đất nước đang mở cửa hội nhập.
Đúng
là áp lực hội nhập quốc tế đã thúc đẩy chúng tôi quyết tâm xoá bỏ độc quyền, mở
cửa cạnh tranh về viễn thông. Từ năm 1997, viễn thông được đưa vào đàm phán
trong Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ (BTA), phía Mỹ yêu cầu rất cao về hinh
thức liên doanh (JV) kể cả 100% vốn nước ngoài được đầu tư vào doanh nghiệp
viễn thông. Trong khi đó, ngành bưu điện chỉ cho phép hình thức hợp đồng hợp
tác kinh doanh (BCC) tức là nước ngoài chỉ đầu tư vốn còn xây dựng và quản lý
cung cấp dịch vụ viễn thông hoàn toàn do phía Việt
Khi
họp ban cán sự Đảng, nghe Tổng cục Bưu điện báo cáo về lộ trình (JV) với nước
ngoài để đàm phán BTA, có một vị đã thốt lên thế này thì mất Xã hội chủ nghĩa.
Còn Hội đồng quản trị VNPT thì đề nghị họp với Ban cán sự Đảng Tổng cục Bưu
điện. Tôi cương quyết gạt đi và nói các đồng chí cứ báo cáo lên cấp trên, tôi
chịu trách nhiệm trước Thủ tướng chính phủ.
Mấy
năm đàm phán gay go với phía Mỹ, lại phải thuyết phục nội bộ ngành và làm yên
lòng các vị lãnh đạo cấp cao còn quá lo ngại về an ninh quốc gia, lo mất lợi
ích kinh tế và việc làm cho người lao động nước ta khi nước ngoài vào làm liên
doanh viễn thông tại Việt Nam.
Tại
phiên đàm phán cuối cùng về BTA tại
Thật
may mắn là Việt
Giờ nhìn lại nếu không cương quyết mở
cửa cạnh tranh viễn thông và Internet là khó sớm kí được BTA và WTO, là cản trở
sự phát triển và hội nhập của đất nước, là có lỗi với dân với nước.
Bài 4: “Ông Lê Khả Phiêu hỏi kĩ
về chống lộ bí mật nhà nước”
Lan Anhthực hiện
Xem lại kỳ 1: Lực cản
đeo đẳng và áp lực từ cấm vận
|
Nhận xét