4781. Liều thuốc mạnh cho căn bệnh nợ công
Liều
thuốc mạnh cho căn bệnh nợ công
Nguyễn Xuân Thành - Đỗ Thiên Anh Tuấn (*)
Thứ Sáu, 21/10/2016, 09:36 (GMT+7)
![]() |
Một trong ba phương án kiến trúc nhà ga sân bay Long Thành chuẩn bị đưa ra lấy ý kiến người dân. Đây là một trong những dự án sân bay có tác động lớn đến nợ công của Việt |
(TBKTSG)
- Một trong những yêu cầu quan trọng để giảm nợ công là cần phải giảm được bội
chi ngân sách. Tuy nhiên câu hỏi của Việt Nam là để giảm bội chi ngân sách,
Chính phủ cần phải tăng thu hay giảm chi?
Khuyến nghị gần đây của Quỹ Tiền tệ quốc
tế (IMF) cho rằng Việt Nam
cần phải cải thiện nguồn thu. Đúng là phải cải thiện nguồn thu, nhưng phải hiểu
sao cho đúng với bối cảnh Việt Nam ?
Theo người viết,
Việt Nam cần phải nỗ lực cải thiện nguồn thu trên cơ sở giảm động cơ che đậy
nguồn thu ngân sách của chính quyền địa phương, tái cơ cấu các khoản thu đang
thiếu bền vững, cải cách cơ sở của một số sắc thuế, đồng thời cũng phải nỗ lực
chống gian lận thuế, thất thu thuế, chuyển giá, giảm quy mô của nền kinh tế
ngầm...
Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với
khuyến nghị Việt Nam
cần theo đuổi mục tiêu tăng tỷ lệ thu ngân sách so với GDP trong thời gian tới
trong bối cảnh nguồn thu từ dầu thô và thu ngoại thương giảm sút.
Hình 1 cho thấy tỷ lệ thu ngân sách so với
GDP của Việt Nam
hiện nay là phù hợp với các nước cùng trình độ phát triển kinh tế trong khu
vực, thậm chí phải nói chính xác hơn là đang ở nhóm cao hơn. Tỷ lệ thu ngân
sách của Việt Nam chỉ thấp
hơn một số nước, đặc biệt là Trung Quốc nhưng cao hơn nhiều so với Indonesia , Philippines , Ấn Độ, Hàn Quốc...
Thực ra tỷ lệ thu ngân sách của Việt Nam đã từng ở mức cao nhất trong
giai đoạn 2003-2010, so với các nước được so sánh ở đây. Từ năm 2010, tỷ lệ này
của Việt Nam
đã giảm đáng kể, trở lại mức trung bình trên của các nước.
Dựa trên thực trạng này, IMF (2016) đã đưa
ra khuyến nghị Việt Nam
cần cải thiện nguồn thu nhằm lấy lại tỷ lệ thu ngân sách so với GDP như trước
đây và phù hợp với một số nước trong khu vực.
Nghiên cứu của IMF (2016), chủ quan hoặc
vô tình, chỉ so sánh tỷ lệ thu ngân sách trên GDP của Việt Nam với Trung Quốc,
Campuchia và nhóm ASEAN 4 nên đã không mô tả đúng bức tranh thu ngân sách của
Việt Nam. Tuy nhiên, mặc dù giảm sút nhưng tỷ lệ thu ngân sách hiện tại của
Việt Nam
vẫn cao hơn so với các nước được IMF lấy so sánh, trừ Trung Quốc.
Thực tế cho thấy giai đoạn trước 2008 thu
ngân sách của Việt Nam quá cao chứ không phải đó là mức hợp lý để làm cơ sở
khuyến nghị quay trở lại mức thu ngân sách của giai đoạn đó. Giai đoạn từ năm
2008 đến nay, mức thu tính trên GDP sụt giảm một phần là do nền kinh tế suy
giảm tăng trưởng chứ không phải do mức ngân sách thu thấp.
Quan trọng hơn cả là nguồn thu từ dầu thô
sụt giảm đã khiến cho tỷ lệ thu ngân sách của Việt Nam giảm sâu. Như vậy, để tăng tỷ
lệ thu ngân sách, Việt Nam
chỉ có thể tăng cường các khoản thu ngoài dầu thô. Nhưng tỷ lệ thu từ thuế
ngoại thương cũng sụt giảm do các cam kết hội nhập quốc tế, nên Việt Nam chỉ có thể
cải thiện ngân sách từ nguồn thu nội địa.
Điều này có nghĩa là gánh nặng ngân sách
sẽ tiếp tục dồn lên khu vực sản xuất trong nước, trong khi với sức tăng trưởng
kinh tế đang bị suy giảm như hiện nay, và quan trọng nữa là Chính phủ đang
khuyến khích tinh thần khởi nghiệp, Việt Nam đang cần một chính sách nới lỏng
tài khóa (theo hướng giảm thu) chứ không phải thắt chặt. Nói tóm lại, không có
lý do gì để Việt Nam
phải nỗ lực quay lại thời kỳ trước.
Trong khi đó, xét về tỷ lệ chi ngân sách
so với GDP, Việt Nam
cũng thuộc nhóm cao nhất trong số các nước tương đồng trong khu vực. Điều đáng
nói là cuối thập niên 1990, Việt Nam chỉ thuộc nhóm nước trung vị xét về tỷ lệ
chi ngân sách nhưng hiện tại Việt Nam là nước dẫn đầu cùng với Trung Quốc và Ấn
Độ. Trong khi đó, Malaysia, Thái Lan, Hàn Quốc, Singapore, Philippines,
Indonesia... đều có tỷ lệ chi ngân sách so với GDP khá thấp.
Điều này cho thấy rằng có cơ sở thực tiễn
để nói rằng tỷ lệ chi ngân sách hiện nay của Việt Nam đã ở mức tương đối cao so với
nhiều nước trong khu vực có trình độ phát triển tương đồng. Do đó không có cơ
sở để Chính phủ tiếp tục gia tăng vị thế ngân sách nhà nước so với quy mô nền
kinh tế trong giai đoạn cải cách hiện nay và sắp tới.
Liều kháng sinh
mạnh cho căn bệnh nợ công
Đưa nợ công về giới hạn an toàn không phải
là vấn đề “một sớm một chiều” nhưng cũng không phải là chuyện “để đến chiều
tính”. Dưới đây là một số gợi ý chính sách được rút ra từ những nghiên cứu gần
đây của chúng tôi:
Thứ nhất, Chính phủ phải siết chặt lại kỷ
cương, kỷ luật tài khóa một cách nghiêm minh. Các khoản chi ngân sách của bộ
ngành và địa phương chỉ được cho phép trong giới hạn ngân sách đã dự toán. Mọi
trường hợp chi vượt dự toán đều không được chấp nhận và người đứng đầu đơn vị
được cấp dự toán ngân sách phải chịu trách nhiệm nếu để xảy ra tình trạng vượt
chi.
Thứ hai, yêu cầu minh bạch ngân sách và
trách nhiệm giải trình độc lập. Các đơn vị sử dụng dự toán ngân sách phải định
kỳ công khai đầy đủ tình hình thu chi ngân sách của đơn vị mình trên trang
thông tin điện tử để người dân có thể truy cập và giám sát.
Thứ ba, nguyên tắc để thu hẹp thâm hụt
ngân sách là giữ kỷ luật chi ngân sách theo đúng dự toán, phần tăng thu, nếu
có, sẽ dùng để giảm bội chi, tức giảm vay nợ chứ không phải vẫn giữ nguyên mức
bội chi và vay nợ và tăng chi tiêu mới ngoài dự toán.
Thứ tư, quy định cụ thể mức trần bội chi
ngân sách trong Luật Ngân sách Nhà nước. Có thể chấp nhận mức bội chi ngân sách
động bình quân cho cả thời kỳ thay vì bội chi tĩnh cho từng năm như hiện nay.
Thứ năm, chuyển các khoản chi ngoài ngân
sách vào trong ngân sách để đảm bảo có thể cân đối và kiểm soát được bội chi
ngân sách, duy trì tính thống nhất trong quản lý ngân sách quốc gia. Kiểm soát
chặt tình trạng đội vốn đầu tư trong các dự án đầu tư công, xem hành vi để đội
vốn đầu tư dự án tựa như hành vi làm thất thoát vốn và tài sản của Nhà nước.
Thứ sáu, kiểm soát chặt chẽ các khoản nợ
bảo lãnh chính phủ, xóa bỏ tình trạng cho vay chỉ định nhằm phát huy vai trò
giám sát của hệ thống tài chính. Người có thẩm quyền cấp bảo lãnh theo phân cấp
phải chịu trách nhiệm đối với hiệu quả của các khoản nợ được bảo lãnh.
Thứ bảy, duy trì trạng thái cân bằng của
cán cân ngân sách cơ bản, tiến đến thặng dư ở mức tối thiểu bằng với chi phí
tài trợ nợ để đảm bảo nợ công không tăng thêm. Một khi tăng trưởng kinh tế được
thúc đẩy, tỷ lệ nợ công so với GDP sẽ giảm xuống một cách bền vững.
Thứ tám, Chính phủ vẫn phải tiếp tục nỗ
lực cải thiện nguồn thu ngân sách nhưng không phải bằng cách “tận thu”. Thay
vào đó cần phải tìm cách chống thất thu cho ngân sách, chống nợ đọng thuế, gian
lận thuế, chống chuyển giá, chống các hành vi gian lận thương mại, buôn lậu và
trốn thuế.
Thứ chín, khi nguồn thu ngân sách từ dầu
thô và thuế ngoại thương sụt giảm, các khoản thu nội địa sẽ tăng lên là điều
khó tránh khỏi. Một số khoản thuế có cơ sở thuế tiềm năng rất lớn cần phải cải
cách như thuế bất động sản và thuế thu nhập dành cho người có thu nhập cao và
người sở hữu nhiều tư bản (vừa đảm bảo nguồn thu, vừa đảm bảo tính công bằng
dọc của thuế).
Thứ mười, đánh giá lại để có biện pháp
kiểm soát bội chi ngân sách ở các địa phương. Tăng cường phân cấp ngân sách,
đặt ra lộ trình để tiến đến tự chủ tài khóa cho các địa phương. Thay vì áp đặt,
hãy yêu cầu các địa phương tự đưa ra cam kết về lộ trình tự chủ từng phần ngân
sách của mình trong giai đoạn tới.
Thứ mười một, tỷ lệ phân chia ngân sách
giữa trung ương với địa phương nên khác nhau theo từng sắc thuế thay vì sử dụng
một tỷ lệ chung như hiện nay. Cần thay đổi cách thức trợ cấp ngân sách cho địa
phương sao cho khuyến khích các địa phương càng tiết kiệm càng có lợi thay vì
kiểu khuyến khích ngược như hiện nay.
Thứ mười hai, giảm tư duy nhiệm kỳ bằng
cách tính toán lại thành quả cho từng nhiệm kỳ. Mỗi lãnh đạo mới phải cam kết
giữ được kỷ luật tài khóa trong nhiệm kỳ của mình, phải chịu trách nhiệm duy
trì được tối thiểu cân bằng ngân sách cơ bản bình quân cho cả nhiệm kỳ. Lấy kết
quả cải thiện cán cân ngân sách cơ bản là tiêu chí đánh giá thành quả lãnh đạo
chứ không phải chỉ một vế như hiện nay là thu ngân sách.
Mời xem thêm
Nhận xét