4153. Thảm họa quốc gia: Nguy cơ ngộ độc kim loại nặng ven biển miền Trung và những tác hại lâu dài
Thảm họa quốc
gia: Nguy cơ ngộ độc kim loại nặng ven biển miền Trung và những tác hại lâu dài
TTHN/ Thứ Tư, 27.4.16
![]() |
Cá chết hàng loạt ở bãi biển miền Trung. Nguồn: internet |
Hiện tượng cá biển chết hàng loạt ở Vũng Áng và dọc bờ biển dài
hàng trăm km ở các tỉnh miền Trung đã khiến dư luận cả nước quan tâm, bức xúc,
cuộc sống của nhân dân các tỉnh liên quan gần như bị đảo lộn [1]. Biển và nguồn
lợi biển không chỉ là nguồn sống của rất nhiều ngư dân dọc bờ biển, nó còn là
một trong những nguồn kinh tế trọng yếu của nước ta. Bên cạnh đó, việc ngộ độc
do ăn đồ biển nhiễm độc đã khiến người dân trở nên hoang mang. Những hiện tượng
tương tự như thế này và hậu quả nghiêm trọng của nó đã từng được ghi nhận trong
lịch sử môi trường thế giới [2]. Do tính nghiêm trọng của vấn đề, ngay khi hiện
tượng này xảy ra, GS.TS Trương Nguyện Thành đã lập tức cảnh báo vào ngày 20
tháng 4 năm 2016 trên Mạng Kết Nối Các Nhà Khoa Học Việt Nam ở Toàn Cầu [3].
Với nghi vấn là việc cá chết liên quan đến nhiễm độc kim loại
nặng (KLN) và những tác hại lâu dài của nó, giáo sư và cộng sự đã có bài viết
trao đổi về vấn đề này dưới góc nhìn của những người làm khoa học.
Kim loại nặng là gì? Nguồn gốc của kim loại nặng là như thế nào?
Kim loại nặng (KLN) là những nguyên tố kim loại có khối lượng
riêng lớn (>5g/cm3), có thể gây độc tính mạnh ngay cả ở nồng độ thấp. Ví dụ
về kim loại nặng gồm có: chì (Pb), thuỷ ngân (Hg), cadimi (Cd), arsen (As), bạc
(Ag)…KLN có rất nhiều ứng dụng trong công nghiệp, nông nghiệp, y tế, cũng như
các sản phẩm công nghệ cao như điện thoại thông minh, xe hơi điện … [4]
Kim loại nặng (kim loại quí hiếm) thường có trong lòng đất và
thường bị khóa chặt trong cấu trúc của một số loại đá nên bình thường trong
thiên nhiên thì vô hại. Ngay cả trong cơ thể sống, với nồng độ cực thấp KLN
cũng có vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất. Lượng kim loại nặng
tích luỹ trong lòng đất rất ít trong khi nhu cầu sử dụng nó ngày càng tăng do
đó kim loại nặng càng trở nên quí hiếm. Trong qui trình khai thác, các kim loại
này được giải phóng; một số còn tồn lại trong chất thải (đa số là chất lỏng
nhưng đôi khi chất khí) sẽ thoát ra môi trường chung quanh qua các ống thải. Nó
có thể bay trong không khí, ngấm xuống nguồn nước ngầm, hấp thụ bởi cây cỏ, hải
sản, và súc vật [4].
Đường xâm nhập của các kim loại nặng và tác hại của nó với sức
khoẻ.
Kim loại nặng thường có tính bền vững rất cao. Do vậy, nó sẽ tồn
tại rất lâu trong đất, nước, không khí. Nếu các sinh vật hấp thụ các KLN này
thì chất độc sẽ được tích luỹ và chuyển qua các sinh vật (động vật cũng như
thực vật) khác nhau qua chuỗi thức ăn. Con người thường là mắt xích cuối cùng
của chuỗi thức ăn và các KLN này sẽ đi vào cơ thể qua ăn uống. Ngoài ra, chúng
cũng có thể xâm nhập qua đường hô hấp và qua niêm mạc (da) [5].
Nếu hàm lượng KLN vượt quá ngưỡng cho phép sẽ rất độc và gây tác
hại lâu dài đến cơ thể con người. Những nguyên tố KLN như arsen, cadimi, crom,
chì, thủy ngân đều được cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA) và Cơ quan Quốc
tế Nghiên cứu về Ung thư (IARC) coi là tác nhân gây ung thư ở người [4]. Nguy
hiểm hơn nếu cơ thể tích lũy hàm lượng lớn kim loại nặng sẽ dẫn đến nhiều biến
chứng nặng nề, gây tổn thương não, co rút các bó cơ, biến dạng các ngón tay,
chân, khớp, làm người bệnh phát điên và tử vong sau khi tiếp xúc từ vài giờ đến
vài tháng hoặc năm. KLN có thể tiếp xúc với màng tế bào, ảnh hưởng đến quá
trình phân chia DNA, dẫn đến thai chết, sự dạng, quái thai của các thế hệ sau.
Tác hại về sức khỏe của kim loại nặng đã được cộng đồng khoa học quốc tế nghiên
cứu và công bố trong thời gian dài [5].
Tại sao lại nghi ngờ cá chết ở Vũng Áng và miền Trung hiện nay
là do nhiễm độc kim loại nặng?
Để khẳng định một cách chính xác, các phương pháp phân tích hóa
chất thường dùng trong các phòng thí nghiệm hóa học, phân tích chất lượng nước,
v.v. có thể xác định chính xác hóa chất gây cá chết. Thí dụ dùng phương pháp
Atomic Absorption Spectroscopy (AAS) có thể tìm ra những kim loại nặng hấp thụ
trong cá chết hoặc Gas Chromatography Mass Spectroscopy (GC-MS) xác định hàm
lượng vết các chất hữu cơ. Những thí nghiệm này không quá phức tạp chỉ cần
trình độ cử nhân hóa học là làm được. Tuy nhiên lý do vì sao cho đến giờ chưa
có một báo cáo nào công bố cụ thể các chỉ số cho toàn dân biết để phòng tránh
vẫn là một điều khó hiểu [6]. Trong lúc chờ kết luận của cơ quan chức năng,
chúng tôi đưa ra những bằng chứng sau để có thể kết luận khả năng hai trường hợp
có thể xảy ra.
Trường hợp 1: Nhiễm độc
kim loại nặng
Chất có khả năng giết hàng loạt cá biển trên một diện rộng như
thế phải là chất kịch độc như kim loại nặng và kể cả chất phóng xạ. Theo thiết
kế của KCN, cổng xả thải được đặt ở vị trí 2 km ngoài khơi, nơi được cho là có
khả năng làm loãng mọi hóa chất một cách nhanh chóng do dung lượng lớn của nước
biển. Tuy nhiên, đối với các kim loại nặng như chì thì một lượng rất nhỏ chỉ
cần 1 g trong 1,000,000 litter nước cũng đủ chết người (Nồng độ IDLH (Immediately
Detrimental to Life and Health) từ Environmental Protection Agency (EPA -Cơ
quan bảo vệ môi trường Mỹ) và 1 g trong 10 triệu litter nước đủ nguy hại đến cá
2 (Xem bài báo khoa học của Solomon).
KLN khối lượng riêng nặng nên khi bị phát tán sẽ dần chìm xuống
dưới nên mới gây chết rất nhiều cá ở tầng đáy. Như các thông tin báo chí đăng
có thể thấy cá sống ở lớp nước sâu bị ảnh hưởng nhiều hơn cá sống ở lớp nước
mặt. Điều đó có thể là dấu hiệu cho thấy do các hợp chất chứa kim loại nặng
chìm xuống dưới làm chết các loại cá và sinh vật dưới đáy biển.
Kết luận kiểm tra của Sở NN&PTNT Thừa Thiên – Huế cho biết,
nguyên nhân cá chết hàng loạt là do pH nước thay đổi đột ngột, chất lượng phú
dưỡng (PO43-) tăng cao đột ngột. Câu hỏi đặt ra “PO4 từ đâu ra và tại sao pH
nước tăng đột ngột?”
a. Đá ở khu vực Vũng Áng rất giống loại đá phosphorite: có lỗ
nhỏ và màu ngả vàng.
Hình 1- So sánh đá ở khu vực Vũng Áng và đá phosphorite
![]() |
Hình 1- So sánh đá ở khu vực Vũng Áng và đá phosphorite |
b. Trong qui trình khai thác đá phosphorite sẽ thải ra nước thải
màu vàng.
Nếu đúng như nhận định ban đầu nguyên nhân gây chết cá là từ
nước thải của Formosa
thì ta có thể liên hệ thấy nước thải này có màu vàng, rất giống với màu đặc
trưng của nước thải khi khai thác phosphorite.
c. Cấu trúc của đá phosphorite điển hình thường có chứa gốc iôn
kim loại nặng và PO43- :
(Một số ít ion bạc trong cấu trúc này có thể được thay thế bởi
các loại kim loại nặng khác nhau). Khi khai thác đá phosphorite sẽ giải thoát
một lượng lớn PO4, ion Ag cũng như một số kim loại nặng vào nước thải.
Phosphoric acid là một acid yếu do đó với lượng lớn PO4 3- ion,
theo nguyên tắc chuyển dịch cân bằng Le Chatelie, chiều phản ứng sẽ bị đẩy
ngược để tạo nhiều OH ion hơn và do đó nâng cao độ pH của nước.
Theo nghiên cứu của Salamon, chỉ cần 0.1 ppb (part per billions)
lượng ion bạc là đủ giết cá. 0.1 ppb tương đương với 1 g cho 10 triệu litter
nước. (hệ số biến đổi: 1 ppb = 1 g/1 triệu L) 2
Trường hợp 2: Nhiễm
độc bởi cyanide
Trong kỹ thuật khai thác mỏ kim loại, NaCN thường dùng để chiết
xuất vàng và các kim loại quí hiếm. Thí dụ trong trường hợp chiết xuất vàng từ
quặng, NaCN giúp biến vàng thành chất có thể tan trong nước theo phản ứng sau
và đồng thời sản xuất NaOH, một bazơ mạnh theo phương trình sau:
4 Au + 8 NaCN + O2 + 2 H2O → 4 Na[Au(CN)2] + 4 NaOH
NaCN là một loại muối rất dễ tan trong nước. Do đó nếu không kết
hợp với kim loại thì ion cyanua sẽ xuất hiện ở dạng ion trong nước thải.
a. Vì phản ứng hóa học thải ra NaOH do đó nồng độ pH của nước sẽ
tăng phù hợp với báo cáo của Sở NN&PTNT Thừa Thiên – Huế.
b. Ion Cyanua (CN–) tan trong nước là một chất cực kỳ độc. Nó
làm hệ thống hô hấp của động vật mất chức năng tiêu thụ oxy. Nồng độ IDLH của
CN là 25 g/ 1 triệu L. [14]. Tuy không độc bằng kim loại nặng nhưng với lượng
lớn cyanua cũng có thể gây cá biển chết hàng loạt.
c. Khu vực miền Trung được biết có nhiều mỏ vàng. Do đó khả năng
chất thải có từ việc khai thác vàng và kim loại quí hiếm cũng không phải là
thấp (Xem hình 2- so sánh nước thải của Formosa và nước thải từ quá trình
khai thác vàng)
Tác hại có thể dự đoán trên diện rộng của sự việc ở Vũng Áng.
Khi cống thải được đặt ở 2 km xa bờ biển thì cột nước thải có
thể cao vài chục đến cả trăm mét. Dòng hải lưu nơi đó đủ mạnh để phát tán chất
độc trong diện rộng từ vài trăm đến ngàn km dễ dàng và nhanh chóng. Thực tế cho
thấy tác hại đã lan ra trên 250 km bờ biển.
![]() |
Hình 3- Cột nước thải và sơ đồ vùng biển nhiễm độc [8] |
Theo lí thuyết, những chất này nếu là kim loại nặng thì tác hại
của nó có thể là khôn lường và rất khó ước đoán. Các loại hải sản ở khu vực
nhiễm độc đều có thể bị nhiễm nặng. Lượng độc tố có thể ngấm sâu xuống mạch
nước ngầm và gây hại lâu dài. Tình trạng ở Vũng Áng có tầm nguy hại đến sức
khỏe và mưu sinh của dân chúng trên diện rộng do dòng hải lưu và phân phối hải
sản tiêu thụ trên cả nước chứ không chỉ giới hạn ở Vũng Áng. Lịch sử thế giới
đã ghi nhận rất nhiều trường hợp thương tâm về việc nhiễm kim loại nặng từ môi
trường và cuộc đấu tranh pháp lí không hề dễ dàng.
Một vài ví dụ đau thương được ghi nhận về nhiễm độc kim loại nặng
![]() |
Nạn nhân bị nhiễm bệnh Minamata |
Bệnh Minamata là đại thảm họa môi trường của Nhật-như cái giá
phải trả cho việc quá nôn nóng phát triển kinh tế mà bỏ qua việc bảo vệ môi
trường. Từ năm 1932-1968, công ty Chisso (Nhật) sử dụng thủy ngân hữu cơ là
chất xúc tác để sản xuất acetaldehyde, axit acetic và các chất dẻo. Methyl thủy
ngân là chất kịch độc, độc đến nỗi chỉ vài giọt rơi vào da có thể dẫn đến tử
vong ngay lập tức. Trong quá trình sản xuất, methyl thủy ngân được sinh ra và
đổ thẳng xuống vịnh Minamata mà không qua bất kì một sự xử lý nào. [9]
Thủy ngân phát tán trong môi trường nước, bám vào phù du và lắng
xuống bùn. Cá hấp thụ oxy trong nước qua mang cá, tích lũy thủy ngân trong cơ
thể. Khi ăn phải những con cá bị nhiễm độc đó dần dần, người ăn sẽ tích lũy
lượng thủy ngân đáng kể trong cơ thể. Khi đi vào trong cơ thể người, thủy ngân
tấn công thẳng vào hệ thần kinh trung ương, hệ nội tiết, và các cơ. Thủy ngân
làm con người trở nên loạn trí, các khớp xương bị co rút, dẫn đến biến dạng cơ
thể. Người mẹ nhiễm thủy ngân sẽ đẻ con ra quái thai, dị dạng hoặc bị nhiễm
bệnh Minamata bẩm sinh. Hậu quả là hơn 17 000 người dân phải gánh chịu căn bệnh
này suốt hơn 60 năm. [10]
Tác hại của việc khai thác KLN cho môi trường có thể biểu hiện
trực quan hơn ở chung quanh khu vực nhà máy khai thác kim loại nặng ở Baotou,
Trung Quốc năm 2012 súc vật bị chết do nhiễm khí độc. Ngay cả cây ăn trái cũng
èo uột và trái có mùi hôi thối [11].
Nếu là NaCN thì sao?
Tuy tính độc hại lâu dài của cyanua không tàn khốc như kim loại
nặng, chất độc này có thể phá hủy hệ thần kinh và bộ phận hô hấp, thay đổi hồng
cầu. [15]. Người bị nhiểm độc rất khó thở và dễ bị chảy máu mũi. Những triệu
chứng này không phù hợp lắm với triệu chứng tìm thấy ở những người bị ngộ độc
do ăn cá nhiễm độc báo chí đã đưa thời gian gần đây. [12]
Không ăn cá chết thôi chứ hải sản sống thì ăn không sao? Tắm
biển cũng không sao?
Đây là một nhận định sai lầm trầm trọng. Khi cá chết có nghĩa
nồng độ chất độc đã vượt ngưỡng. Nhưng cá còn sống không có nghĩa là không có
bị ngấm chất độc. Tuy trường hợp cá chết do NaCN thì ít nguy hại hơn nhưng nếu
là kim loại nặng thì hệ quả lớn hơn nhiều. Xin nhắc lại tất cả hải sản từ vùng
ô nhiễm có xác suất hấp thụ độc tố rất cao đặc biệt là những loại sinh vật sống
sát đáy. Những độc tố này tồn dư, tích luỹ qua chuỗi thức ăn. Do cơ thể con
người không có khả năng thải kim loại nặng hiệu quả, nó sẽ tích lũy dần dần và
gây tác hại lâu dài như nói trên. Đã có nghiên cứu chỉ ra lượng nhiễm độc thuỷ
ngân vào cơ thể người từ việc ăn cá lên đến 95%. [10] Ngay cả lí do lần này
không liên quan đến kim loại nặng thì việc chất độc tồn dư ở những con cá chưa
đủ liều lượng giết chêt cá là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Thậm chí đã có ngộ
độc với người xảy ra ở Quảng Bình (Bố Trạch), Hà Tĩnh (Kì Anh) [12]. Do vậy,
đây là một nhận định vô cùng nguy hiểm. Người ngộ độc KLN qua đường tiêu hóa
thường có triệu chứng bụng quặng đau, buồn nôn, tiêu chảy, nhức đầu và kiệt sức.
Bên cạnh đó, như chúng tôi đã đưa ra trước đó bên cạnh sự nhiễm
độc do hô hấp và qua đường thức ăn thì chất độc có thể đi vào cơ thể qua da
(niêm mạc). Do vậy, trong thời gian này hạn chế việc tắm biển, thậm chí các bạn
tham gia điều tra nên có bảo hộ khi lặn sâu vào vùng nhiễm độc.
Không đưa ra lời cảnh báo để tránh việc chặn đi đường sống của
hàng triệu dân nghèo?
Cũng có một vài ý kiến cho rằng, khi chưa có bằng chứng cụ thể
chúng ta không đưa ra nhận định để tránh làm mất đi nguồn sống của người dân
hay làm nhân dân hoang mang. Theo chúng tôi đây là một nhận định hết sức sai
lầm. Khoa học ngoài việc tìm ra bằng chứng còn có chức năng dự báo để đề phòng
trường hợp xấu nhất. Chúng ta đề phòng trường hợp xấu nhất nhưng mong đợi vào
tình huống khả quan nhất. Nếu chúng ta không cảnh báo kịp thời, hậu quả sẽ lan
nhanh, sâu và rộng hơn cho cộng đồng đến mức độ không còn khả năng kiểm soát
được. Như ví dụ trên: vụ nhiễm độc Minamata cũng được phát hiện nhờ vào lời
cảnh báo của viện trưởng Hosokawa của bệnh viện Kumamoto khi nghi ngờ nhiêm độc thủy ngân hữu
cơ của các bệnh nhân. Tại thời điểm đó, sự việc như này chưa hề có tiền lệ
trước đó [10]. Chúng ta đi sau nên học những bài học của người đi trước để
tránh sai lầm. Hơn nữa việc chúng ta được cảnh báo là để chúng ta biết và đề
phòng chứ không hề vì thế mà sợ hãi.
Những phát ngôn thiếu trách nhiệm
Thời gian gần đây nhiều cơ quan chức năng nhà nước đưa ra kết
luận “nguyên nhân cá biển chết hàng loạt là do độc tố” [13]. Về điều này, một
người dân không có hiểu biết về khoa học cũng có thể kết luận được, đặc biệt là
những nạn nhân trúng độc phải cấp cứu do ăn đồ biển ở khu có cá chết. Có hai
nguyên nhân cá biển chết hàng loạt: 1) báo hiệu sắp có thiên tai từ động đất
hay núi lửa ở thềm lục địa (điều này xưa nay chưa bao giờ xảy ra ở Việt Nam),
2) có sự thay đổi lớn về số lượng vi sinh vật trong vùng nước (hiện tượng nước
nở hoa, hay dịch bệnh) và 3) chất kịch độc do con người thải ra trong nước
biển. Kết luận của cơ quan chức năng chỉ khẳng định rằng chúng ta sẽ không có
thiên tai. Điều 90 triệu dân Việt cần biết từ cơ quan chức năng là xác định cá
chết và người dân bị ngộ độc là do hóa chất gì để cộng đồng khoa học có thể hổ
trợ tìm phương án giải quyết.
Lãnh đạo Formosa
nói 300 tấn hóa chất nhập về sử dụng để tẩy rửa một số đường ống không gây hại
và với khu công nghiệp thì chỉ “bé như hạt gạo” [13]. Kết luận của lãnh đạo Formosa rất mập mờ và khó hiểu, gây phẫn nộ cho
rất nhiều người dân Việt Nam .
Xin phép được hỏi hóa chất tẩy rửa đường ống đó có tên hóa học là gì? Nếu lãnh
đạo Formosa
không trả lời được thì xin cho biết tên thương mại là gì? Chi cục Hải Quan Hà
Tĩnh có thể cho dân biết thông tin cụ thể về 300 tấn hóa chất này không?
Mới đây lãnh đạo Formosa
còn tuyên bố để phát triển kinh tế việc chết vài con cá biển là chuyện nhỏ và
là cái giá phải đánh đổi. Chỉ tiếc là việc chết cá biển không phải là chuyện
“bé như hạt gạo” mà nó có thể là cảnh báo cho một tai họa còn khủng khiếp hơn
chất độc màu da cam sắp đổ xuống các thế hệ tiếp theo của Việt Nam .
Kết luận:
Có thể coi sự việc nghiêm trọng này là một thảm họa quốc gia,
một quốc nạn tác hại khôn lường và lâu dài. Với sự nguy hiểm của chất độc chúng
tôi cho rằng cần có một nghiên cứu toàn diện với sự hỗ trợ của cộng đồng khoa
học quốc tế như World Health Organization (WHO) và nên khẩn cấp trong thời gian
này. Chính phủ cần yêu cầu Formosa
dừng ngay việc xả nước thải ra biển cho đến khi có kết quả điều tra chính thức.
Các cơ quan luật pháp cũng như các luật sư cần thu thập thông tin đầy đủ để có
thể bắt buộc Formosa bồi
thường thiệt hại cho dân về sức khỏe cũng như thiệt hại kinh tế nếu sự thật
chất độc là do Formosa
thải ra. Trong khi chờ kết luận của cơ quan điều tra thì người dân tạm dừng
tiêu thụ các loại hải sản và không đi tắm biển. Người dân ở vùng bị nhiễm, cần
phải xét nghiệm mẫu nước sinh hoạt và sản xuất nơi mình đang sống. Chúng tôi đã
có bài viết hướng dẫn cách lấy mẫu và gửi đi xét nghiệm để có kết quả chính
xác. Nếu các bạn cần tư vấn thêm về cách xử lý nước hoặc trao đổi về các kết
quả nhận được có thể gửi email cho chúng tôi. Nếu có điều kiện hãy dùng máy lọc
để lọc nước trước khi dùng kể cả đó là nguồn nước sinh hoạt. Đồng thời chúng ta
cũng nhanh chóng phổ biến đến người dân, để nhân dân an tâm, có biện pháp đề
phòng và cũng cần đề phòng các lực lượng mê tín dị đoan lợi dụng hiện tượng này
để tung tin đồn nhảm và trục lợi. Hơn lúc nào hết người dân cần tự mình trang
bị những kiến thức cần thiết để bảo vệ cho chính bản thân và gia đình.
ThS. Trần Thị Thanh Thoả - Khoa
Sinh học, Trường Đại học Thủ đô Tôkyo, Nhật Bản (thoa.tran@riken.jp)
Thiều Mai Lâm - Viện
Khoa học Cao phân tử, Đại học Kỹ thuật Virginia, Mỹ (thieu@vt.edu)
Trương Nguyện Thành - Khoa Hóa Học, Đại Học Utah, Mỹ
(Thanh.Truong@utah.edu)
--------------------
Tài liệu tham khảo
2- Frances Solomon, ‘Impacts on aquatic ecosystems and human
health’, Mining.com (April, 2008)
3- https://www.facebook.com/groups/ivanet.org/
4-Tác hại của KLN : ” Heavy Metals Toxicity and the Environment”.
5- Lars Järup, Hazard of heavy metal contamination, British
Medical Bulletin 2003; 68: 167–182
7- Ảnh bồn chứa nước xả. http://m.nguoiduatin.vn/kinh-ngu-mat-tich-sau-cong-bo-bi-mat-ve-ong-xa-thai-cua-formosa-a237658.html
9- Bệnh minamata điều người Nhật không thể nào quên
10- Sách của bộ Môi trường Nhật Bản (Japanese Ministry of the
Environment –環 境 省)
11- Khai thác kim loại nặng ở Baotou , TQ.
(Vietnam
Journal of Science)
Dẫn theo TTHN
Nhận xét