4304. Phóng viên từng phỏng vấn Dương Văn Minh cuối chiến tranh Việt Nam
Phóng viên từng phỏng vấn Dương Văn Minh cuối
chiến tranh Việt Nam
Ông Carl Robinson, bên phải, có cuộc phỏng vấn chớp nhoáng với Dương Văn Minh, tổng thống cuối cùng của chính quyền miền |
"Ông sẽ lên làm tổng thống chứ? ông có sẵn sàng không?", Carl
Robinson cố gắng chen vào để hỏi Dương Văn Minh, tướng của chính quyền Việt Nam Cộng hòa
khi đó đang đứng trước khả năng lên làm tổng thống.
Cuộc phỏng vấn ngắn ngủi diễn ra ở cổng sau
biệt thự của tướng Dương Văn Minh vào cuối tháng 4/1975. Khi đó, ông Minh chỉ
nói "vẫn đang chờ, để chờ xem".
Chia sẻ với VnExpress, ông Robinson cho biết lúc đó các tổng
thống của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, Nguyễn Văn Thiệu và Trần Văn Hương lần
lượt từ chức sau khi quân Mỹ rút đi, Dương Văn Minh đứng trước khả năng nắm giữ
vị trí quan trọng đó nhưng "ông ta tỏ ra lưỡng lự". Ông Minh nhậm
chức tổng thống nhưng chỉ duy trì được 3 ngày, từ 28/4 rồi sau đó đọc lời tuyên
bố đầu hàng trước quân Giải phóng trưa ngày 30/4/1975.
"Cách trả lời của Dương Văn Minh cho
thấy ông ta khá do dự trước quyết định gánh vác vị trí tổng thống", Robinson
nhận định.
Tuổi 20 đầy hoài bão ở đồng bằng sông Cửu Long
Carl Robinson đến Gò Công, Tiền Giang, đầu năm 1964, sau khi vừa học
xong ở Hong Kong , Trung Quốc. "Tôi đến
làm việc cho Cơ quan Phát triển quốc tế Mỹ USAID với chương trình họ gọi là
"chiếm lĩnh trái tim và tâm trí". Ở tuổi 21, tôi tràn đầy lý
tưởng", Robinson nói.
Công việc chính của ông khi đó là cùng đồng
nghiệp tới các ngôi làng ở Gò Công, thậm chí tới cả Kiến Hòa, Bến Tre để giúp
người dân xây cầu, xây trường học, trạm xá, các dự án điện và cải thiện đời
sống kinh tế. Với suy nghĩ khá "ngây thơ" là tới giúp người dân,
Robinson không hề lo sợ bất trắc hoặc ai đó sẽ làm hại mình.
Tuy nhiên thời gian đó không kéo dài lâu. Ông
dần dần nhận ra chính quyền Việt Nam Cộng hòa không quan tâm đến người dân thực
sự, họ không nhiệt huyết như ông tưởng, "họ chỉ tìm cách bớt xén tiền của
USAID để tư túi". Điều thứ hai khiến Robinson thất vọng là sự can dự của
Mỹ vào cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam , đưa quân đội tới và dùng chất
độc da cam.
"Tôi quyết định rời USAID sau chiến dịch
Mậu Thân năm 1968, hành động đó có thể coi là sự phản đối của tôi với cách Mỹ
can dự trong cuộc chiến, họ hành động không đúng", Robinson kể.
Mặc dù mang sự thất vọng lớn, nhưng bù lại,
Robinson lại có cơ duyên gặp một cô gái Tiền Giang tên Kim Dung, người sau này
theo ông lên Sài Gòn và họ tổ chức đám cưới năm 1969.
Thời gian đó cũng đánh dấu bước ngoặt khác của cuộc đời ông, khi trở
thành phóng viên của AP. Mặc dù từng đưa tin ở chiến trường Lào và
Campuchia và không ít lần đối diện hiểm nguy, Robinson không đưa tin chiến trận
ở Việt Nam mà chú trọng hơn đến những bài nhìn nhận cuộc chiến từ góc độ chính
trị. "Quan hệ giữa Mỹ, Trung Quốc, Nga, và Việt Nam không hề đơn giản. Đối ngoại
không phải là trò dễ chơi", ông nhận định.
Robinson năm 1970 còn góp phần gây nên sự rúng động tại Washington khi
đăng tải bài phỏng vấn Don Luce, nhà báo Mỹ trực
tiếp đến Côn Đảo chứng kiến sự tồn tại của chuồng cọp, nơi giam giữ các tù nhân
chính trị và sử dụng các hình thức tra tấn từ thời trung cổ. "Ban đầu tôi
không để ý đến độ nghiêm trọng vì tài liệu rất nhiều và phức tạp. Nhưng sau này
tôi rất mừng vì góp phần thuyết phục Mỹ ngừng sử dụng hình thức tra tấn
đó", Robinson nói.
Ông Robinson cùng vợ và ba con hồi năm 1978. Ảnh: NVCC |
Hóa giải bằng những chuyến đi
Nhớ lại thời khắc cuối tháng 4/1975, Robinson cho biết gia đình ông cuối
cùng quyết định rời khỏi Sài Gòn. Vợ và hai con ông đến Bangkok , Thái Lan và chờ ông ở đó. Chiều ngày
29/4, Robinson đưa em vợ và cháu lên máy bay của Mỹ ở sân bay Tân Sơn Nhất để
bay ra tàu đỗ ngoài khơi.
"Khi đứng trên điểm cao nhất của con tàu trông vào phía bờ, tôi bật
khóc vì sau 11 năm ở Việt Nam, cuối cùng tôi lại phải ra đi như thế. Cảm giác
như tôi đã mất cả cuộc đời ở đó, tôi không thể trở về nhà nữa", Robinson
chia sẻ.
Ông cùng gia đình trở về Mỹ được hai năm thì hãng AP cử
ông đến Sydney , Australia , làm phóng viên thường
trú. Nhưng chỉ một năm sau, ông rời vị trí này vì không thể tập trung làm việc.
Đến năm 1995, Robinson quyết định trở về Sài Gòn sau 20 năm xa cách.
"Lần đầu tiên, tất cả những ký ức cay đắng biến mất, cảm giác trở
về nhà thật tuyệt vời", Robinson nói.
Ngay sau đó, ông bắt tay vào tổ chức một công ty du lịch, chuyên đưa các
cựu chiến binh Việt Nam và Australia về thăm Việt Nam . Trong đó
có những người từng thuộc lực lượng 50.000 lính Australia tham chiến, đóng tại Bà
Rịa - Vũng Tàu. Các cựu chiến binh đi cùng vợ để có thể hiểu được một phần
đời của họ ở Việt Nam .
"Tôi muốn giúp những người này có được trải nghiệm giống như mình,
chúng tôi có những ký ức tồi tệ có thể gọi là Rối loạn stress sau chấn
thương (PTSD). Điều tốt đẹp nhất đến với tôi là trở lại nơi này. Tôi không còn
cảm giác cay đắng nữa", Robinson cho hay.
Khi nghiên cứu về lịch sử Việt Nam sâu hơn, ông nhận ra mình cũng
chỉ là "một giọt nhỏ trong tiến trình đó". Giờ đây Việt Nam là một xã
hội hiện đại, đang phát triển.
"Em vợ tôi, một Việt kiều, gần đây đi lại giữa Australia và Việt Nam nhiều lần vì cậu ấy đang xúc
tiến một dự án về năng lượng mặt trời. Thế hệ những người Việt trẻ ở Australia có nền tảng giáo dục tốt đang trở về
Việt Nam ". Theo
ông Robinson, hầu hết những người Việt rời Sài Gòn sau năm 1975 mà ông biết đều
trở về quê hương, "họ làm điều đó khi nghĩ về con cháu mình", ông
nói.
Tự nhận mình là một người "rất Việt Nam ",
Robinson cho hay hiện nay gia đình ông ở Australia vẫn giữ nếp sinh hoạt
truyền thống của người Việt. Vợ chồng ông ở cùng con và cháu. "Vợ tôi nấu
nướng còn tôi trông ba đứa cháu", ông hào hứng khoe. Ông cũng hỗ trợ các
cháu nhà vợ còn ở Gò Công, Tiền Giang mở cửa hàng kinh doanh nhỏ, chẳng
hạn như một beauty salon. Những người này mỗi khi gặp đều gọi ông là "ông
Năm, hoặc bác Năm", theo cách gọi của người miền Tây.
"Nhiều người Mỹ và người Việt giờ đây
không nặng nề về quá khứ nữa. Chúng ta không thể cứ sống mãi với những kỷ niệm
cay đắng, chẳng có lý gì để mắc kẹt mãi trong đó cả", Robinson nói.
Robinson đang tham gia chuyến thăm TP HCM nhân kỷ niệm 40 năm giải phóng miền |
Nhận xét