4299. Ngày suy ngẫm của dân tộc
Ngày suy ngẫm của dân tộc
Tác giả: Chris Tran
![]() |
Cảnh trong phim 'Những đứa con của làng' Bộ phim về hòa giải dân tộc mới trình chiếu |
Tôi
ước mong ngày này trở thành “Ngày suy ngẫm” của dân tộc. Suy ngẫm về chiến
thắng, về hận thù, về hòa giải, về khoan dung với đồng tộc của mình, vượt lên
trên vô thức và định kiến vốn đã đầy ắp trong mỗi con người, vượt lên trên bất
đồng chính kiến.
Hà
Nội, Chủ nhật, 26 tháng 4 năm 2015.
Ký ức về cuộc chiến
Tôi sinh ra trong một gia đình cha mẹ là những đảng viên cộng sản tập kết
ra miền Bắc vào năm 1954. Những người như cha mẹ tôi là thiểu số trong đại gia
đình hai bên. Đa số họ ở lại miền Nam. Và rồi Tổng tuyển cử không diễn ra như
dự kiến do Hiệp định Geneva bị phá vỡ. Đất nước bị chia cắt thành hai miền, Bắc
và Nam. Cơ hội thống nhất trong hòa bình đã bị bỏ lỡ.
Tuổi
thơ của tôi trải qua toàn bộ thời kỳ chiến tranh mà đối với miền Bắc Việt Nam
là hai giai đoạn Mỹ ném bom, lần thứ nhất là từ 1964 đến 1968, và lần thứ 2 là
từ tháng 4 năm 1972 đến tháng 12 năm 1972, đánh dấu bằng thất bại của chiến
dịch rải thảm B52 của Mỹ, với tuyên bố của Tổng thống Mỹ Nixon “đưa Việt Nam
trở về thời kỳ đồ đá”.
Với những cuộc ném bom hủy diệt miền Bắc và đưa một nửa triệu quân đổ vào
miền Nam, Mỹ đương nhiên được coi là xâm lược Việt Nam, và bị cộng đồng quốc tế
kịch liệt phản đối, với phong trào chống can thiệp của Mỹ vào Việt Nam diễn ra
trên khắp thế giới.
Cha
mẹ tôi không kể nhiều cho các con của mình về những người thân ở miền Nam,
ngoại trừ một người cậu của tôi, một Việt Cộng ở Quảng Nam bị mù hai mắt vì
trúng bom Mỹ, được đưa ra miền Bắc và có thời gian an dưỡng ở Trung Quốc. Sau
năm 1975 tôi được biết rằng, tất cả những người khác trong gia đình hai bên cha
mẹ tôi đều là những người phục vụ chính quyền Sài Gòn, dân sự hay quân sự.
Thế rồi ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến…
“Đất
nước hoàn toàn thống nhất, sạch bóng quân thù, non sông từ nay liền một dải…” –
Đó là những gì mọi người luôn được nghe những ngày sau đó trên tất cả các
phương tiện thông tin đại chúng. Sau ngày đầu tiên cùng nhà trường đi diễu hành
mừng “miền Nam giải phóng” hô khẩu hiệu đến khản giọng, tôi trở lại cuộc sống
bình thường với tâm trạng háo hức, tò mò của một thiếu niên về chuyến vào Nam
gặp người thân họ hàng mà tôi chưa từng biết.
Thống nhất đất nước và hai phía
của gia đình
Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đánh dấu thời kỳ “Đất nước thống nhất”.
Thông tin tuyên truyền từ miền Bắc làm cho người ta phân biệt “nhân dân
miền Nam” – những người được xem là sống dưới ách kìm kẹp của chế độ Sài Gòn,
với “ngụy quân và ngụy quyền” – những người phục vụ trong bộ máy nhà nước và
quân đội của chính quyền Sài Gòn, “tay sai” của đế quốc Mỹ.
Thông
tin tuyên truyền từ miền Nam làm cho người ta khiếp sợ về một cuộc trả thù “tắm
máu” của cộng sản, về chế độ “cộng vợ, cộng chồng”… nếu miền Bắc chiến thắng.
Bất
chấp tuyên truyền từ hai phía làm cho người ta dễ dàng có những dự cảm tiêu cực
về người thân trong một gia đình từ hai miền Nam và Bắc, các cuộc đoàn tụ với
người thân cả hai bên nội ngoại của gia đình tôi đều chan chứa tình cảm ruột
thịt.
Khi
đó, tôi không thấy sự thấp kém của những người thân được coi là “ngụy quân,
ngụy quyền” như tuyên truyền, và tôi tin những người thân của gia đình tôi cũng
không coi chúng tôi, những người từ miền Bắc vào là “cộng sản man rợ”. Tình yêu
thương gia đình trong dòng họ tràn ngập trong chúng tôi.
Không
những thế, tôi còn chứng kiến sự ngưỡng mộ của những người thân từ miền Nam đối
với cha mẹ tôi là những người thành đạt và có địa vị xã hội nhất định trong
chính quyền miền Bắc Việt Nam, cũng như thấy cha mẹ tôi ngưỡng mộ những người
thân thành đạt trong chính quyền miền Nam Việt Nam, từ sĩ quan quân đội đến
nghị sĩ quốc hội.
Và
tôi cũng thấy điều hoàn toàn tương tự ở những gia đình có người thân từ cả hai
miền Bắc, Nam. Tuy nhiên, không ai biểu thị tình cảm đó một cách công khai, mà
chỉ trong gia đình, với người thân mà thôi.
Sau
này trưởng thành, xây dựng gia đình, tôi lại được chứng kiến mạnh mẽ một lần
nữa bức tranh đó ở gia đình của vợ tôi, một gia đình có nhiều người thành đạt
và có địa vị xã hội ở cả hai chính quyền miền Bắc và miền Nam.
Cải tạo, phân biệt đối xử
Đó là trong gia đình, còn ở bình diện xã hội, mọi điều diễn ra rất khác.
Có rất nhiều người thân của gia đình tôi thuộc “ngụy quân, ngụy quyền” phải
trải qua những năm cải tạo khắc nghiệt, từ vài năm đến hàng chục năm.
Sau
những cuộc cải tạo đó, không một ai cải tạo cả.
Cậu tôi, một trung tá tâm lý chiến của quân đội Sài Gòn khi chiến tranh
chấm dứt, có nói với tôi sau khi đi trại cải tạo về: “Cải tạo gì? Chính họ được
cậu cải tạo họ vì họ có biết gì đâu”. Nếu biết nội dung của những cuộc cải tạo
đó là gì, chắc ngày nay người ta đều đồng ý với cậu tôi.
Rất
nhiều người, sau những cuộc cải tạo đó đã lựa chọn định cư ở Mỹ.
Một người anh họ của tôi, chỉ là một giáo viên dạy tiếng Anh giỏi, cũng
bị sa thải, phải kiếm sống bằng nghề xe đạp ôm và không bao giờ trở lại sự nghiệp
của mình nữa.
Con
cái của những người thuộc chế độ Sài Gòn còn không được học hành như các bạn
cùng trang lứa, như không thể vào trường đại học, không được du học… Khi tương
lai mờ mịt, họ phải tìm đường di cư ra nước ngoài.
Trong
hàng triệu người bỏ nước sau 1975, cho đến những năm 1990 có những người thân
của tôi. Có người phải “vượt biên” tới bảy lần, vô cùng tốn kém và nguy hiểm,
mới có thể định cư ở nước ngoài. Có trường hợp nhiều gia đình người thân của
tôi tổ chức cùng vượt biên, và may mắn thành công. Sau này tôi mới được nghe về
thảm họa “thuyền nhân” với hàng chục ngàn người Việt Nam mất mạng dưới biển hay
vào tay cướp biển.
May
mắn thay, thế giới đã dang tay đón nhận họ khi họ bị từ chối ở chính quê hương
mình. Chỉ mới năm 2013, tôi mới được biết đất nước Israel nhỏ bé cũng từng đón
nhận hàng trăm thuyền nhân từ Việt Nam, điều mà nhiều người Việt Nam không hay
biết.
Tôi
vẫn còn thắc mắc, vì sao một thảm họa nhân đạo quy mô toàn cầu như vậy lại
không được ghi lại ở bất kỳ đâu trên thế giới, như những khu tưởng niệm về diệt
chủng người Do thái của chủ nghĩa phát-xít tại nhiều nơi trên thế giới, để
không bao giờ nó được lặp lại?
Ngày chiến thắng, ngày quốc hận
và chia rẽ
Những ngôn từ cao sang nhất đã được giành cho chiến thắng vào ngày 30
tháng 4 năm 1975, với đỉnh cao là “Chiến thắng vĩ đại nhất trong lịch sử dân
tộc” mà số người Việt Nam đồng ý hay không đồng ý có lẽ đều là hàng triệu.
Ở
phía khác… Mãi đến năm 2000, kỷ niệm 25 năm ngày chiến tranh kết thúc, tôi mới
được biết và chứng kiến lễ kỷ niệm “Ngày quốc hận” tại Washington DC. Và số
người Việt Nam đồng ý hay không đồng ý về tên gọi của ngày này có lẽ cũng là
hàng triệu. Tôi cảm thấy có lỗi khi biết về ngày này quá muộn để có thể chia sẻ
về đau thương và mất mát của hàng triệu người Việt xa xứ, trong đó có những
người thân của tôi, và hàng triệu người đã phải trải qua cơn ác mộng về cải
tạo, về phân biệt đối xử, và trên tất cả, về thảm họa thuyền nhân.
Trong
ngày lễ kỷ niệm đó, đi dọc theo Washington Mall, trong vô số biểu ngữ, tôi thấy
có “Ở đâu có cộng sản, ở đó có chia rẽ”. Tôi dịch cho anh bạn Mỹ đi cùng, người
đã từng phục vụ trong thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam. Anh ta nói: “Người Việt
Nam các anh, ở đâu cũng chia rẽ”. Với hiểu biết của mình ở phía khác, miền Bắc,
tôi không có gì khác hơn là đồng ý với anh bạn Mỹ đó.
Và
tôi lại nhớ đến câu nói của người cậu trung tá tâm lý chiến: “Không có một dân
tộc nào nói về đoàn kết nhiều, mà lại chia rẽ như dân tộc Việt Nam”.
Ông
cũng là người nói với tôi sau khi đi cải tạo về, những năm 1980: “Đừng tưởng
thắng nhau là vinh quang. Việt Nam chỉ là con bài trong ván bài của các nước
lớn, là Mỹ, là Liên Xô, là Trung Quốc”.
Đó là điều chua xót, đáng suy ngẫm của người Việt Nam về sự chia rẽ bị
lợi dụng của mình.
Bắc hay Nam, bên này hay bên kia
Người ta có thể phân chia người Việt Nam một cách đơn giản là người Bắc
và người Nam, cộng sản hay không cộng sản, thắng cuộc hay thua cuộc. Sự phân
chia phiến diện từ tiềm thức này là cơ sở của sự chia rẽ người Việt Nam.
Tôi
sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, yêu quý thành phố tươi đẹp này, nhất là những năm
tháng của tuổi thơ khi nó còn là đẹp nhất – Tôi là một “người Bắc”. Quê nội
ngoại của tôi ở Quảng Nam, dù chỉ về thăm vài lần trong đời, nhưng cảm thấy
thân thương, ruột thịt – Tôi là một “người Nam”. Cha mẹ tôi là đảng viên cộng
sản. Mẹ tôi là một đảng viên mẫu mực với nhiều thành tích đóng góp cho xã hội,
cha tôi là một đảng viên, mà theo lời ông, “chạy sang phía Việt Minh, vào đảng
cộng sản vì sợ bị thủ tiêu” (cha tôi từng là một đảng viên của Quốc dân đảng) –
Gia đình tôi là cộng sản.
Tôi
từng có nhiều năm phấn đấu, nhưng rồi từ bỏ và không bao giờ là đảng viên cộng
sản – Tôi vừa là cộng sản, vừa không phải là cộng sản. Tôi thuộc “bên thắng cuộc”,
vào Nam với tâm trạng vui mừng khấp khởi và tò mò xem “bên thua cuộc” ra sao,
rồi cảm thấy mình chính là “bên thua cuộc” khi chua xót thấy những người anh em
họ hàng mình mất mát to lớn như thế nào khi thuộc về “bên thua cuộc”.
Tôi
cảm thấy mình ở khắp nơi, Bắc, Nam, cộng sản, không cộng sản, bên thắng cuộc,
bên thua cuộc, được hưởng những điều tốt đẹp mà nhà nước ban cho, nhưng cũng bị
tước những quyền cơ bản hiến định.
Có
hàng triệu người Việt như tôi, cảm nhận thấy mình thuộc cả hai bên của ranh giới
hiềm khích và hận thù?
Và,
hơn tất cả sự phân biệt “bên này, bên kia” đó, trong khi hàng triệu người bị
cuốn vào xung đột “ý thức hệ” – cộng sản hay không cộng sản, thì cái cộng sản
từng luôn cuốn hàng triệu người, trong đó có những công dân ưu tú, với lý tưởng
độc lập tự do cao đẹp, không biết từ lúc nào đã trở thành công cụ đắc lực cho
những kẻ xấu ngày càng đông đảo lợi dụng, trở thành quyền lực vô biên, đang hối
hả củng cố vị thế ngự trị của mình với số đông đang sống trong sợ hãi, dốt nát
và đói nghèo.
Lời kết, về hòa giải và hòa hợp
dân tộc
Có lẽ tôi phải viết hàng trăm trang mới nói hết được những ý nghĩ của
mình về nước Việt Nam và người Việt Nam vào giai đoạn lịch sử phức tạp này của
dân tộc.
Qua
câu chuyện cuộc đời của rất nhiều người mà tôi có dịp được biết đến về cuộc
chiến, trước và sau đó, tôi thấy rằng có thể nhiều triệu trang cần phải được
viết về giai đoạn lịch sử này đã chưa được viết, hoặc bởi bị cấm đoán, hoặc bởi
người ta đã lãng quên trong lo toan của cuộc sống đời thường…
Với
Internet, người ta tiếp nhận được nhiều thông tin hơn, có cơ sở để có nhận thức
và phán quyết của riêng mình về lịch sử. Đối với tôi, những nhận thức và phán
quyết cá nhân đó có những chuyển biến theo thời gian mà dường như ngày càng gần
với thực tại khách quan hơn, làm chính tôi phải ngỡ ngàng.
Ông
Võ Văn Kiệt, một lãnh đạo cao cấp của nhà nước thống nhất đã có một phát biểu
nổi tiếng về ngày 30 tháng 4, tuy không được phổ biến rộng rãi: “Ngày có hàng
triệu người vui nhưng cũng có hàng triệu người buồn”. Đó luôn là nhận thức của
ông, từ 30 tháng 4 năm 1975, hay phải chăng chính ông sau này đã nhận được đủ
thông tin hơn để thay đổi nhận thức và phán quyết của mình về lịch sử?
Tôi
nghĩ, trên thực tế tâm trạng của những người Việt Nam khắp nơi trên thế giới
vào ngày này là phức tạp, là sâu sắc hơn là nỗi buồn hay niềm vui.
Phía
những người vui… Nếu chỉ là vui, phải chăng đó là những người không có nhiều
mất mát trong cuộc chiến để mà suy ngẫm? Có lẽ còn hơn cả niềm vui, họ còn kiêu
hãnh về chiến thắng mà mình đóng góp.
Với niềm tin là mình đóng góp xương máu cho nền độc lập, cho thống nhất
đất nước, giải phóng dân tộc… làm sao mà người ta không kiêu hãnh?
Phía
những người buồn… Nếu chỉ là buồn, phải chăng đó là những người không có nhiều
mất mát trong cuộc chiến để mà suy ngẫm? Có lẽ còn hơn cả nỗi buồn, họ còn có
mối hận thù vì bị đối xử tàn tệ, bị cướp đi cơ hội có một cuộc sống bình thường.
Bị
đầy đọa, bị mất người thân yêu, người ta khó có thể vượt qua được hận thù?
Ở
phía được coi là hận thù, tôi còn thấy sự tiếc nuối về thất bại của một lý
tưởng độc lập, tự do khác, bị vùi dập và quên lãng…
Đất
nước Việt Nam đã thống nhất 40 năm, nhưng dân tộc vẫn còn chia rẽ trong những
con sóng ngầm. Hòa giải và hòa hợp dân tộc dường như còn xa vời, bất chấp tuyên
bố của ai về điều ngược lại.
Hòa giải và hòa hợp dân tộc, tiếc thay, chưa bao giờ được đặt ra như một
chương trình dài hạn của quốc gia, trong khi nó không thể được phát động từ cộng
đồng dân sự trong hoàn cảnh chính trị – xã hội hiện nay của Việt Nam.
Trong
khi đó, hòa giải chưa được đưa ra bởi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Các sáng kiến hòa giải từ bên ngoài Việt Nam ở bất kỳ một quốc gia nào, trớ
trêu thay, dường như cũng luôn được coi là hành động thù địch, làm phương hại
đến quan hệ của Việt Nam với quốc gia đó.
Ngày
30 tháng 4 đối với tôi ngày càng trở thành một ngày đem đến cảm xúc phức tạp.
Cảm xúc về sự yếu thế của một dân tộc tự chia sẽ, tự chấp nhận sống trong lừa
dối, tự chấp nhận sống trong vô thức của ngạo mạn hay hận thù, với chính đồng
tộc của mình.
Các
thế hệ sẽ dần qua đi, để không còn có ai đáng cho ai ngạo nghễ về chiến thắng,
không còn có ai đáng cho ai hận thù vì tội ác đã gây ra.
Nước
Mỹ đã hòa giải với Việt Nam sau nhiều tội ác điên rồ. Hình ảnh cựu chiến binh
Mỹ ôm hôn cựu chiến binh Bắc Việt Nam đã trở thành biểu tượng của sự hòa giải.
Họ đang tích cực tham gia khắc phục hậu quả chiến tranh từ rà phá bom mìn, cứu
giúp nạn nhân chiến tranh, xây dựng trường học, bệnh viện… Hai quốc gia Mỹ và
Việt Nam đã trở thành những đối tác thân thiết về thương mại, đầu tư, văn hóa,
giáo dục.
Nhưng
chúng ta còn chưa thấy được hình ảnh cựu chiến binh miền Nam và miền Bắc ôm hôn
nhau, dù đã có nhiều cựu chiến binh Nam Việt Nam định cư ở nước ngoài, theo tôi
được biết, đã về nước tham gia làm từ thiện, tham gia xây dựng quê hương, trong
lặng lẽ. Điều khác biệt của họ so với các cựu chiến binh Mỹ là, họ hành động
với lòng yêu quê hương, đồng bào, chứ không phải từ mặc cảm tội lỗi trong chiến
tranh.
Tôi
ước mong ngày này trở thành “Ngày suy ngẫm” của dân tộc. Suy ngẫm về chiến
thắng, về hận thù, về hòa giải, về khoan dung với đồng tộc của mình, vượt lên
trên vô thức và định kiến vốn đã đầy ắp trong mỗi con người, vượt lên trên bất
đồng chính kiến.
Suy
ngẫm để cùng đối mặt với những sự thật phũ phàng, dù ở bất kỳ “bên” nào, để có
được nhận thức và phán quyết tường minh về lịch sử cho mình và cho các thế hệ
tương lai.
Suy
ngẫm để cùng đưa ra được một chương trình nghị sự, từ ý chí của cộng đồng,
chính trị và phi chính trị, về hòa giải và hòa hợp của người Việt Nam trên toàn
Thế giới, như một dân tộc thống nhất, vĩ đại.
Tác
giả gửi cho viet-studies ngày 28-4-15/
Dẫn theo Kim Dung/Kỳ Duyên
Nhận xét