2932. Cỏ xanh - hồn các anh xanh
PNTB: Kỷ niệm ngày Thương binh - liệt sĩ 27/7, thưởng thức bài thơ
CỎ XANH – HỒN CÁC ANH XANH
của đại tá Bùi Văn Bồng.
Lời ru làm hiện lên hình ảnh người chiến
sĩ năm nào xuyên rừng lội suối, reo vui với mỗi bước quân hành. Ở nơi nhiều cỏ
ít hoa này, hồn thiêng tử sĩ vẫn khát khao hơi ấm của đồng đội, khát khao khói
nhang giữa rừng già hoang vắng.
Ta như thấy đâu đây các anh vẫn đang đi “rung lá ngụy trang” với
gió đèo. Các anh vẫn nằm ngủ giữa bạt ngàn rừng xanh Tây Bắc, Việt Bắc, Tây
Nguyên hay bên kia biên giới nước bạn Lào, Campuchia?
LỜI RU NGỌN CỎ
Bùi Văn Bồng
Cỏ xanh bên mộ khẽ ru
À ơi! Rừng đã vào thu lá vàng
Dấu chân quy
tập muộn màng
Mộ còn nằm với cỏ hoang rừng già
Nơi
đây nhiều cỏ ít hoa
Hãy say giấc ngủ như là tuổi xanh.
Bao năm vững bước quân
hành
Lá rừng vẫy gió rung cành ngụy trang
Giờ đây giữa cánh rừng
hoang
Hồn thiêng khao khát khói nhang trong chiều
Nắng xiên xiên, gió
xiêu xiêu
Để cho lá cỏ xanh theo hồn người.
Mùa
thu đầy lá vàng rơi
Mùa đông trắng xóa chân trời sương
giăng
Hồn thiêng gọi lá thắm
rừng
Giọt sương mai cũng đọng ngưng nỗi niềm
Đọng
ngưng từng hạt sương rơi
Là khi lá cỏ gọi đời lên xanh
Người hy
sinh, đất hồi sinh
Trái tim hoá ngọc lung linh đất trời.
Lời ru ấm nắng. Người ơi!
Dù là ngọn cỏ tận nơi cuối trời
Thương
đau ru đến muôn đời
Và xanh, xanh mãi để lời ru êm
Cho dù ai đó
lãng quên
Thì đây cỏ biếc vẫn bên mộ
người.
BVB
![]() | ||
|
Lời bình của Lê Xuân:
CỎ XANH – HỒN CÁC ANH XANH
* LÊ XUÂN
![]() |
ập thơ "Lời ru ngọn cỏ" - NXB Hội Nhà văn - 2009 |
|
Ngày thương binh-liệt sĩ lại đến, tôi
nghĩ về biết bao chiến sĩ đã ngã xuống cho Độc lập- Tự do mà nay vẫn còn nằm
lại với cỏ cây rừng già nơi chiến trường năm xưa dãi dầu mưa nắng. Hình như có
một nhịp cầu nối linh cảm của tôi với các anh khi bắt gặp bài thơ Lời ru ngọn cỏ của nhà thơ, nhà báo quân đội: Đại
tá Bùi Văn Bồng. Và tôi muốn mượn bài thơ này làm một nén tâm nhang tưởng nhớ
người thân, bạn bè và các anh đã hy sinh trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại của
dân tộc.
Cùng với Nguyễn Duy, Lê Đình Cánh, Huy Trụ, Trịnh Anh Đạt.. thì Bùi Văn Bồng là một trong những người
con của xứ Thanh viết lục bát nhuần nhụy và tự nhiên như hương đồng gió nội. Là
một người lính đã từng gắn bó nhiều với rừng với cỏ, nên hình tượng “cỏ” cứ ám
ảnh, cứ trăn trở ở nhiều bài thơ của Bùi Văn Bồng. Nào là “Cỏ tràn xanh thương nhớ với đời”,
“Cỏ níu lại ấm nồng giọt nắng”, “Cỏ xanh da diết chiều mây trắng”, “Hoa cỏ ánh
lên bảy sắc cầu vồng” (Bảy sắc cầu vồng). Nào là “Lòng nhớ quê rối bời rau cỏ” (Hoa
muống làng quê), “Khói hương trong gió cỏ rưng rưng” (Thiếu phụ ngõ vắng), hay “Bâng khuâng đồi cỏ héo hon” (Cánh rừng năm ấy đâu rồi)... Nhưng
hồn cỏ lung linh nhất, máu thịt nhất, vẫy gọi và hát ca nồng thắm nhất kết tinh
lại ở Lời ru ngọn cỏ – một bài thơ có tứ độc đáo. Cỏ được nhân hóa
làm lời ru vỗ yên giấc ngủ ngàn năm của người lính dưới mộ:
Cỏ
xanh bên mộ khẽ ru
À ơi! Rừng đã vào thu lá vàng
Dấu chân quy tập
muộn màng
Mộ
còn nằm với cỏ hoang rừng già.
Hai câu lục bát mở đầu được ngắt theo
nhịp 4/2, 4/4 như lời thầm thì, khe khẽ của cỏ theo bước chân nhẹ nhàng
của những đồng đội đi tìm mộ các anh. Không gian mở ra ở cánh rừng già biên
giới, thời gian khép lại trong ánh chiều thu gợi buồn. “cỏ hoang” và “rừng già”
đã bao năm chở che anh trong lòng đất Mẹ. Cỏ đã hát lời ru:
Nơi
đây nhiều cỏ ít hoa
Hãy
say giấc ngủ như là tuổi xanh
Bao
năm vững bước quân hành
Lá
rừng vẫy gió rung cành ngụy trang
Giờ
đây giữa cánh rừng hoang
Hồn
thiêng khao khát khói nhang trong chiều.
Lời ru làm hiện lên hình ảnh người chiến
sĩ năm nào xuyên rừng lội suối, reo vui với mỗi bước quân hành. Ở nơi nhiều cỏ
ít hoa này, hồn thiêng tử sĩ vẫn khát khao hơi ấm của đồng đội, khát khao khói
nhang giữa rừng già hoang vắng. Ta như thấy đâu đây các anh vẫn đang đi “rung
lá ngụy trang” với gió đèo. Các anh vẫn nằm ngủ giữa bạt ngàn rừng xanh Tây
Bắc, Việt Bắc, Tây Nguyên hay bên kia biên giới nước bạn Lào, Campuchia? Tác
giả đã tạo được mối giao cảm giữa những người đang sống và hồn các anh đã khuất
trong cảnh chiều thu:
Nắng xiên xiên, gió xiêu xiêu
Để cho lá cỏ
xanh theo hồn người.
Các từ láy “xiên xiên”, “xiêu xiêu” làm
cho câu thơ nên họa, nên nhạc và mang được điểm sáng thẩm mỹ của cả bài, làm
thấp thoáng trước mắt ta hồn thiêng các chiến sĩ đang phiêu diêu nơi trần thế.
Cái ánh vàng “xiên xiên” khi chiều sắp tắt và ngọn gió
“xiêu xiêu” mở ra một cõi mộng giữa cõi thực, như có sự thần giao cách cảm giữa
hai cõi âm dương. Dưới cảm quan nghệ thuật của nhà thơ, cỏ vẫn xanh theo hồn
người, chứ không “Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh” như cỏ trên mộ Đạm Tiên
trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Cỏ xanh, hồn các anh xanh? Đó là sự bất tử.
Màu xanh của cỏ làm ta gợi nhớ đến màu xanh áo lính, một màu xanh chắc khỏe,
bền đẹp. Trong nắng chiều sắp tắt, sương đang rơi, nhưng người đọc lại cảm thấy
ánh lên sự kỳ diệu của con tim phát sáng :
Đọng
ngưng từng hạt sương rơi
Là
khi lá cỏ gọi đời lên xanh
Người hy sinh đất hồi sinh
Trái
tim hóa ngọc lung linh đất trời.
Lối tiểu đối bằng lặp từ “người hy sinh/
đất hồi sinh” một lần nữa khẳng định sự bất tử của hồn thiêng người lính. Sự hy
sinh của các anh là một sự bồi đắp, hồi sinh cho dân tộc. Chất ngọc đáng quý
được kết tinh từ máu của người chiến sĩ như ánh sáng mặt trời, như trăng sao
không bao giờ tắt. Nhà thơ Bùi Văn Bồng cùng “đồng điệu” với nhà thơ Tố Hữu khi
viết về sự bất tử của con người qua hình ảnh “trái tim”. Trong bài “Mẹ Tơm”, Tố
Hữu viết: “Sống trong cát chết vùi trong cát/ Những trái tim như ngọc sáng
ngời”.
Lời ru là nắng ấm, là tiếng lòng
thương yêu, thổn thức, ngậm ngùi đến muôn đời của những người đang sống gửi tới
các anh.
Lời ru ấm nắng. Người
ơi!
Dù là ngọn cỏ tận nơi cuối trời
Thương đau ru đến muôn đời
Và xanh, xanh mãi để lời ru êm.
Kết thúc bài thơ là một lời nhắc nhở nhẹ
nhàng mà sâu sắc đối với những ai chưa làm tròn bổn phận đối với các liệt sĩ:
Cho
dù ai đó lãng quên
Thì đây cỏ biếc vẫn bên mộ người.
Ngọn cỏ làng quê ngày đêm ru hồn các
liệt sĩ trong các cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Bài thơ
gợi trong ta một nỗi buồn man mác nhưng không bi lụy. Hồn thơ đi vào lòng
người, làm toát lên niềm thương cảm và biết ơn của mỗi chúng ta với các liệt
sĩ. Âm hưởng lạc quan và bi tráng là nét nhạc chủ đạo toát lên ở mỗi vần thơ
của anh. Cỏ trong thơ Bùi Văn Bồng là màu xanh bất tận, là sự chở che, là tiếng
ru vỗ về các liệt sĩ, là màu xanh bất tử của Việt Nam. Cỏ xanh – hồn các
anh xanh, dù trải biết bao thăng trầm thời cuộc, đất nước gian nguy, nhan tâm
bất định, nhưng các anh vẫn mãi mãi tuổi xanh trên mọi hành trình của dân tộc,
sống mãi trong lòng biết bao thế hệ hôm nay và mai sau.
L.X
Nhận xét