2569. Nước cờ hiểm của TQ với giàn khoan
Nước cờ hiểm của
TQ với giàn khoan
Nguyễn
Lễ
![]() |
Trung̣ Quốc định ngày rút giàn khoan là ngày 15/8 |
Các đợt xuống đường của người dân Việt Nam có thổi bay
cái giàn khoan của Trung Quốc khỏi Biển Đông?
Câu trả
lời, nhiều khả năng, là ‘Không’.
Ít nhất
những diễn biến trên thực địa cùng với những tuyên bố cứng rắn đến nay cho thấy
Trung Quốc quyết không lùi một bước.
Tôi
không rành về khai thác dầu khí nhưng theo lý mà suy thì chừng nào xong việc
mới rút giàn khoan chứ làm sao biết được sẽ rút ngày nào?
Nhưng
nếu Bắc Kinh không công bố trước thời hạn rút giàn khoan thì bất cứ lúc nào họ
rút đi cũng sẽ bị cho là chịu thua sức ép của Việt Nam .
Đưa giàn
khoan ra Biển Đông, Bắc Kinh muốn quyết tâm khẳng định với thế giới rằng vùng
biển xung quanh đó thuộc chủ quyền của họ.
Nhưng
tại sao họ lại ra tay vào lúc này? Giàn khoan Hải Dương 981 là cách mà họ thách
thức cam kết “xoay trục” mà Tổng thống Mỹ Barack Obama vừa khẳng định với
các đồng minh.
Obama
vừa mới lên tiếng Senkaku nằm trong phạm vi hiệp ước an ninh với Nhật và Manila cũng vừa ký với Mỹ Hiệp ước tăng cường liên minh
quân sự. Kiếm chuyện với Tokyo hay Manila khi Obama vừa rời
đi thì quá “bựa”.
Để thách
thức Mỹ nhưng vẫn tránh đối đầu trực diện, Bắc Kinh chọn mục tiêu mềm hơn là Hà
Nội.
Nước
cờ chắc ăn
Vả lại
khi có hành động mà Bắc Kinh biết rằng sẽ bị thách thức dữ dội thì họ phải chọn
nước cờ chắc ăn nhất.
Họ không
chọn vùng biển xung quanh các đảo mà họ đang nắm giữ ở Trường Sa hoặc một vị
trí nào khác trong Biển Đông mà họ biết sẽ rủi ro hơn rất nhiều.
Quần đảo
Hoàng Sa chỉ có tranh chấp với Việt Nam, trong khi Trung Quốc còn không thừa
nhận là có tranh chấp và lâu nay vẫn cự tuyệt mọi đề xuất đàm phán của Hà Nội.
Về mặt
thực tế, “Tây Sa” đã nằm hoàn toàn trong tay Trung Quốc và cách nay không lâu
họ còn gióng trống mở cờ thành lập thành phố “Tam Sa” đóng trên quần đảo này.
![]() |
Tổng thống Mỹ Obama vừa cam kết với các đồng minh châu Á về chính sách “xoay trục” |
Về mặt
pháp lý, họ có “bửu bối” là công hàm Phạm Văn Đồng mà nếu Hà Nội có cãi lý
thì họ sẽ dùng để đập lại.
Họ kiểm
soát, họ không thừa nhận có tranh chấp, họ có bằng chứng Hà Nội “công nhận chủ
quyền”, rõ ràng Bắc Kinh rất tự tin với “chủ quyền Tây Sa” nên họ mới đưa giàn
khoan ra đây.
Nếu Việt
Nam có nói là giàn khoan nằm
trong vùng đặc quyền kinh tế của mình thì Trung Quốc sẽ cãi rằng giàn khoan này
nằm cách “Tây Sa, lãnh thổ của họ” chỉ 17 hải lý trong khi cách bờ biển Việt Nam
đến 150 hải lý.
Trên
thực tế đó là kịch bản mà báo chí và các quan chức Trung Quốc đã nói trong
những ngày qua.
Một khi
có bước đi liều lĩnh như thế chắc chắn Bắc Kinh đã tính toán hết mọi rủi ro
mới dám thực hiện.
Nhìn vào
động tĩnh của Trung Quốc trong những ngày qua thì sẽ thấy họ theo dõi chặt chẽ
phản ứng của Việt Nam ,
của khối Asean và của Mỹ.
Ngay cả
khi phản ứng chính thức của Mỹ chỉ dừng ở mức “quan ngại” và chỉ trích Trung
Quốc ‘gia tăng căng thẳng’ thì Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã phủ đầu với
tuyên bố ở Thượng Hải rằng “các thế lực bên ngoài không được can thiệp” và
“chống lập liên minh quân sự nhằm vào bên thứ ba”.
Còn với
Asean, mặc dù còn không nêu tên Trung Quốc mà chỉ bày tỏ “quan ngại” nhưng Trung
Quốc đã rất nhanh chóng lấy quan hệ chung để nhắc nhở Asean không được dính vào
tranh chấp riêng và cảnh báo Hà Nội về việc “lôi kéo” Asean.
Làm
chủ tình hình
Phản ứng
mạnh mẽ của Việt Nam
chắc chắn cũng đã nằm trong dự liệu của Trung Quốc.
![]() |
Các lãnh đạo Asean không muốn mất lòng Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông |
Mỹ can
thiệp, Asean dính líu và Việt Nam
ngả về phía Mỹ là ba nỗi sợ của Bắc Kinh khi đưa giàn khoan HD-981 ra Biển
Đông.
Về phía
Mỹ thì Bắc Kinh biết rõ vào lúc này Washington
không thể làm được gì nhiều để giúp Hà Nội ngoài hỗ trợ tinh thần.
Về phía
Asean thì Bắc Kinh biết rằng với tư cách là đối tác thương mại lớn nhất của
khối, các nước Asean sẽ hết sức thận trọng để tránh làm tổn thương quan hệ với
Trung Quốc.
Về phía
Việt Nam ,
với quan hệ khăng khít giữa hai Đảng Cộng sản trong những năm qua, Bắc Kinh
chắc hẳn nắm rõ suy nghĩ của Hà Nội.
Điều Bắc
Kinh sợ nhất là Hà Nội ngả về phía Washington để họ thêm một mối họa ở phía
Nam, nhưng một khi họ đã đưa giàn khoan ra thì có nghĩa họ tin rằng Hà Nội dù
có bị o ép thế nào đi nữa thì cũng không tìm kiếm liên minh với Mỹ
Chỉ có
điều với hành động này thì họ đã hủy hoại quan hệ với Việt Nam . Việt Nam sẽ không còn là “láng giềng
thân thiện” với Trung Quốc được nữa. Tuy nhiên, vì mục đích lớn ở Biển Đông,
Bắc Kinh sẵn sàng hy sinh.
Trong
cái mục đích lớn đó, đảo thì họ đã nắm được một phần nhưng đường lưỡi bò
thì đây mới là bước đi quan trọng đầu tiên để hiện thực hóa.
Nếu như
Trung Quốc lùi trước phản ứng của Việt Nam thì trước mắt người dân trong nước
chính quyền là hèn nhát không đủ sức bảo vệ chủ quyền, trước dư luận quốc tế
lập luận chủ quyền của họ không vững và nhất là đường lưỡi bò mới tiến được một
bước đã phải lùi thì sau này sẽ vô vàn khó khăn.
Biển
Đông là cánh cửa để Trung Quốc bành trướng ra ngoài và là chìa khóa để làm bá
chủ ở Đông Á, nhất là khi họ đã bị chặn bởi các nước lớn khác ở các
hướng bắc, đông và tây nam.
![]() |
Trung Quốc đang muốn biến đường lưỡi bò trên bản đồ thành sự thật |
Chậm
mà chắc
Năm
1947, đường lưỡi bò lần đầu tiên xuất hiện trên bản đồ Trung Hoa.
Lúc đó,
người Trung Quốc còn chưa có gì trên Biển Đông. Gần 70 năm sau, họ đã có
“thành phố Tam Sa” – tức là đã có chỗ đứng vững chắc để từ đó vươn ra Biển
Đông.
Ai dám
chắc sau 70 năm hoặc 100 năm nữa toàn bộ Biển Đông không trở thành ao nhà của
Trung Quốc?
Từ chỗ
không có gì đến có được như thế phải thấy tầm nhìn và sự khôn ngoan của Trung
Quốc trên Biển Đông: họ xác định đó là công việc lâu dài, tiến dần từng bước một,
tranh thủ thời cơ, sẵn sàng dùng vũ lực, sức mạnh đến đâu hiện thực chủ quyền
đến đó.
Mặc dù
có yêu sách đường chín đoạn từ rất lâu nhưng phải đến tận năm 2009 họ mới chính
thức trình ra quốc tế. Chứng tỏ Bắc Kinh giỏi giấu mình chờ thời cơ đến mức nào.
Tuy
nhiên điều này cũng cho thấy sự không trong sáng trong đòi hỏi chủ quyền của
họ. Nếu có chủ quyền thật sự thì cần gì đợi thời cơ mới đưa ra?
Và cái
cách mà họ vẽ đường chín đoạn trong tất cả các bản đồ của họ hiện nay, mặc dù
chỉ là chủ quyền trên giấy, là nhằm in sâu vào tâm trí mọi người để rồi đến lúc
ai cũng mặc nhiên thừa nhận “chủ quyền không thể chối cãi” của Trung Quốc.
Họ cũng
rất biết lợi dụng tình hình khi tranh thủ tối đa những lúc Việt Nam
rối ren hay gặp tình hình quốc tế bất lợi để ra tay chiếm đảo.
![]() |
Chính phủ Bắc Việt đã quá tin tưởng vào Trung Quốc? |
Với một
đất nước đã quen với ván cờ quyền lực và đấu tranh chính trị trong hàng ngàn
năm thì Việt Nam
không phải là đối thủ của họ trong cuộc đấu trí trên Biển Đông.
Họ có
tầm nhìn cả trăm năm, có chiến lược thực hiện rõ ràng và nhất là luôn ở thế tấn
công trong khi Việt Nam
nằm ở thế bị động chống đỡ các bước đi của họ.
Trước
phía nhiều mưu chước như Trung Quốc, Việt Nam chẳng khác nào một đứa trẻ ngây
ngô liên tục bị gài bẫy.
Cái bẫy
lớn nhất chính là công hàm năm 1958 công nhận Tuyên bố về lãnh hải của Trung
Quốc mà trong Tuyên bố này có khẳng định chủ quyền đối với “Tây Sa” và “Nam
Sa”.
Bắc Việt
lúc đó chỉ nghĩ đến cái lợi trước mắt là sự giúp đỡ của Trung Quốc chứ không
lường được cái hại sau này trong khi Trung Quốc mưu tính chuyện lâu dài về sau.
Công
luận quốc tế không cần biết ông Đồng suy nghĩ thế nào hay bối cảnh ra sao khi
ký cái công hàm đó. Chỉ biết giấy trắng mực đen rành rành Việt Nam công
nhận chủ quyền của Trung Quốc.
![]() |
Việt biểu tình chống Trung Quốc lớn chưa từng thấy |
Đành
rằng ông Đồng không thể đem cho cái mà Chính phủ của ông không có, nhưng ông có
thể thừa nhận quyền sở hữu của người khác đối với tài sản mà ông không có đó.
Và khi
đã thừa nhận của người khác thì bây giờ sao lại nói ngược là của mình được?
Rõ ràng
Việt Nam
tin vào tình đồng chí còn Trung Quốc đã lợi dụng tình đồng chí đó.
Quan hệ
quốc tế luôn dựa trên nền tảng lợi ích quốc gia - không có chỗ cho “tinh thần
quốc tế vô sản trong sáng”. Bắc Kinh đã không đổ xương máu cho Hà Nội nếu không
có lợi ích của mình trong đó.
Bắc Việt
đã quá ngây thơ khi tin tưởng người đồng chí phương Bắc hơn đồng bào của mình ở
miền Nam .
Họ đã để ý thức hệ chi phối chính sách ngoại giao của mình.
Chính vì
ý thức hệ mà khi Việt Nam
hụt hẫng sau khi Liên Xô sụp đổ đã bất chấp những kinh nghiệm đau thương trong
quá khứ lại tìm đến Trung Quốc làm chỗ dựa. Và đất nước lại bị đặt trước miệng
cọp.
Cũng vì
ý thức hệ mà Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khi sang thăm Trung Quốc đã chấp
nhận lời khuyên lấy “đại cục” làm trọng, tức là đặt lên trên tranh chấp.
Khi đưa
giàn khoan ra Biển Đông, Bắc Kinh có nghĩ đến “đại cục” không?
![]() |
Các lãnh đạo Trung Quốc tin rằng Việt |
Rõ ràng
“đại cục” đó không phải để ràng buộc Bắc Kinh mà là để Bắc Kinh ràng buộc Hà
Nội.
Thậm chí
khi Bắc Kinh đã phá vỡ cam kết của lãnh đạo hai Đảng thì Thường Vạn Toàn vẫn
tự tin nhắc nhở Phùng Quang Thanh về “đại cục”.
Và cho
đến giờ cũng chính ý thức hệ đã khiến Việt Nam mắc kẹt trong “đường lối đối
ngoại độc lập, tự chủ, không liên minh với ai”
Mạnh như
Nhật mà còn cần hiệp ước an ninh với Mỹ, có vũ khí hạt nhân như Anh, Pháp vẫn
cần Mỹ đồng minh trong khối Nato.
Trong
khi đó, Việt Nam
hiện nay vừa nhỏ yếu vừa bị đe dọa nghiêm trọng thì cứ nói là “độc lập, tự
chủ” mà thực ra chỉ thiệt cho mình mà thôi.
Thử cho
Mỹ vào Cam Ranh xem? Bắc Kinh không sợ mới lạ.
Mỹ rất
muốn nhưng Việt Nam
“độc lập, tự chủ” không làm được.
Chính vì
thế Việt Nam
mất đi một lá bài lợi hại trong cuộc đối đầu vốn dĩ không cân sức.
Nguồn: bbc.co.uk
Theo: BVN
Nhận xét